Bước tới nội dung

Trang:Van dan bao giam 1.pdf/64

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 64 —

QUA ĐÈO NGANG (Bà huyện Thanh-Quan)

Qua đỉnh đèo Ngang bóng sế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom-khom dưới núi tiều vài chú,
Lác-đác bên sông chợ mấy nhà.
Luyến chúa đau lòng con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi miệng cai gia-gia.
Dừng chân đứng lại giời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

HOÀI CỔ (Bà huyện Thanh-Quan)

Tạo-hoá gây chi cuộc hí-trường,[1]
Đến nay thấm-thoắt mấy tinh xương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu-thảo,[2]
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch-dương.[3]
Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

CHƠI CHÙA TRẤN-QUỐC (Bà Huyện Thanh-Quan)

Ngoài cửa hành cung cỏ rãi rầu,
Trạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Một tòa xen tỏa hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng[4] coi vẫn rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ đâu đâu tá?
Khéo ngẩn-ngơ thay lũ trọc đầu.


  1. Hí trường: rạp hát, ý nói cuộc đời. —
  2. Thu-thảo: cỏ mùa thu. —
  3. Tịch dương: bóng sế chiều. —
  4. Phế hưng: uy thịnh.