Bước tới nội dung

Trang:Van dan bao giam 1.pdf/83

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.
— 83 —

ĐỀ NÚI LÃ-VỌNG

I

Ông xuống chi đây mới lạ đời?
Hay là ông xuống thử trần chơi?
Mình chen giời đất so gan đá,
Bạn với non sông giả kiếp người.
Nhật nguyệt hai vừng soi trước mặt,
Càn-khôn một gánh sẵn hai vai.
Có ai hỏi lão đà bao tuổi?
Từ thuở ta ra đã có giời.

II

Lão được như ông mấy lão sù?
Biếng đường danh-lợi chẳng bôn-xu.
Vững cùng giời đất giầy niên-kỷ,
Bền với non sông giải phát-phu.[1]
Chốn ẩn chẳng màng đôi Hứa, Phủ,[2]
Cuộc cờ từng trải mấy Thương, Chu.
Có ai hỏi lão đà bao tuổi?
Kể tự Hồng Mông[3] trải mấy thu.

VẤN NGUYỆT

Trải mấy thu nay vẫn hãi còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỡi con bạch-thỏ đà bao nả?
Chớ chị Hằng-Nga đã mấy con?
Đêm thẳm cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son.
Năm canh lơ-lửng chờ ai đó?
Hay có tình chung với nước non?


  1. Phát phu: tóc da. —
  2. Hứa, Phủ: Hứa-Do. Sào-Phủ là hai người ẩn-dật. —
  3. Hồng Mông: đời thượng cổ.