vô cùng, mà chỉ gốc cũng một người mà thôi.
自 其 形 體 也 謂 之 天 主 宰 也 謂 之 帝, 流 行 也 謂 之 命 賦 於 人 也 謂 之 性, 主 於 身 也 謂 之 心, 心 之 發 也 遇 父 便 謂 之 孝 遇 君 便 謂 之 忠, 自 此 以 往, 名 至 於 無 窮, 只 一 性 而 已 猶 人 一 而 已, 對 父 謂 之 子 對 子 謂 之 父, 自 此 以 往, 各 至 於無 窮, 只 一 性 而 已 猶 人 一 而 已 對 父 謂 之 子 對 子 謂 之 父 自 此 已 往 對 至 於 無 窮 只 一 人 而 已,
(Trả lời cho Lục Trừng)
(Truyền Tập Lục, thượng.) Tính hay là lương tri, hay là tâm, là cái có tự nhiên, do trời phú bẩm cho con người Nếu phải hỏi lên đến Khổng Tử, thời ta thấy nơi sách Trung Dung nói: « Cái trời mạng cho thời gọi là tính » 天 命 之 謂 性 Bởi cho nên Vương Dương Minh cũng chủ trương: « Tâm, tính, trời, là một vậy 心 也, 性 也, 天 也 一 也 (Trả lời cho Nhịếp
310