Bước tới nội dung

Trang:Vuong Duong Minh.pdf/325

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.

là nói cách khác, chỗ « cực hạn »[1] 極 限 của độn tịnh (à la limite du mouvement et du repos) là chỗ « trung » khi « vị phát ».

Thử lấy thí dụ tiếng chuông, để dẫn đến cái nghĩa của « vị phát chi trung » Khi chưa khua chuông, tiếng của nó nguyên có thể kinh thiên động địa. Khi đã khua chuông, tiếng của nó lại tịch hiên mịch địa

譬 如 鍾 聲, 未 扣 時 原 是 驚 天 動 地 旣 扣 時 也 只 是 寂 天 寞 地,

(Trả lời Hoàng Tỉnh Hội 黃 省 會, Truyền Tập Lục, hạ.)

Chưa khua mà có thể kinh động, là chỉ về chỗ động ở nơi « cực hạn » Đã khua mà tịch mịch, là chỉ về chỗ tịnh ở nơi « cực hạn » Khua, là đã phát. Cái « trung » của « vị phát » — nói về tiếng chuông ở đây —


  1. Cực hạn là tiếng người Tàu dịch chữ limite dùng trong số học. Ta có thể dịch là rất mực. Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh định nghĩa: « Cái số mục có thể tới gần mãi mà không thể đạt đến được, như số 1/2 + 1/4 + 1/8 + 1/16... không khi nào tới cực hạn là 1 được. »
326