Văn đàn bảo giám/Quyển thứ nhất/Hát nói
HÁT NÓI
KIẾP NHÂN SINH
人生如寄耳
Nhân sinh như ký nhĩ,
得意須盡歡
Đắc ý tu tận hoan.
Hữu mã, hữu thuyền, hữu thủy, hữu san,
有馬有船有水有山
Tức bỉnh-trúc[1] giạ du lương hữu dĩ.
卽秉燭夜遊良有以
Đành vũ-trụ ấy ngô-nhân phận sự,
Cũng tiêu dao cho tuế nguyệt thêm trường.
Vân sương-sương hề thủy ương ương,
雲蒼蒼兮水泱泱
Phong quang ấy người sao nên phụ?
Nhược đãi công thành danh toại
độ,[2]
若待功成名遂度
Nhất đôi lão cốt dĩ lăng tằng[3]
一堆老骨己崚𡾓
Thế thời sơn chi nam, sơn chi bắc, chi Tung, Hằng,
Chắc đâu truyện phù bình tán tụ.
Lưng bầu rượu say cổ kim kim cổ,
Một túi thơ vui hoa nguyệt nguyệt hoa.
Khi cờ vây, khi bài lá, khi tiếu ngạo, khi cầm ca,
Nhận phong vị hào hoa làm lạc thú.
Chỉ Lô Tản ngắm cùng thảo thụ,
Cuộc tỉnh say say tỉnh ai hay,
Thử xem con Tạo sau này!
LIỆT NỮ
(Bà Nguyễn-thị-Kim vợ vua Chiêu Thống, khi Tây-Sơn ra chiếm Bắc-Hà, Chiêu-Thống chạy sang Tầu, bà theo không kịp, ẩn-núp ở chùa, nghe tin Chiêu-Thống chết, bà ra đón tang ở cửa quan, táng xong bà liền uống thuốc độc tự-tử).
Chiều Lê-quí có nàng Tiết-liệt,
Hai mươi thu chẳng bận thù tây.
Đem tàn dung nương chốn am mây,
Đạo thần tử, tình trong phu phụ.
Vạn cổ di luân chiêu vũ trụ,[4]
萬古彜倫昭宇宙
Nhất xoang chung nghĩa đáp quân vương.[5]
一腔忠義答君王
Hai vai một gánh cương thường,
Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí.
Đã nên đấng chung thần bất nhị,
Lại nên tài liệt nữ bất canh.
Rõ-ràng hai chữ trung, trinh.
HÀN TÍN
So tam kiệt ai bằng ngươi Hàn-Tín,
Một tay thu muôn dặm nước non.
Những ngờ rằng khoán thiết như son,
Thái-Sơn như lệ, Hoàng-Hà như đái.
泰山如礪黃河如帶
Hạp tảo ngũ hồ song Phạm-Lãi,[6]
盍早五湖雙范蠡
Khước dao tam kiệt độc Trương-Lương.[7]
却教三傑獨張良
Đau-đớn thay điểu-tận, cung-tàng.
Đầm Vân-Mộng phải mắc mưu con trẻ.
Nếu biết chữ khả hành khả chỉ.
Thời ngũ-hồ một lá cho xong,
Làm chi lúng-túng trong vòng.
CHÚC THỌ
Sang Đông-Hải vin cành nhược mộc,
Về Nam-Minh bẻ ngọn phù-tang.
Lần lên mây hỏi chú xương xương,
Dưới trần-thế được mấy trăm ông Bành-Tổ?
Ta muốn chúc ngô-hoàng vạn thọ,
Song cách bẩy mươi ba lần khói biếc thẳm xa.
Chim đại-bằng bay thẳng lại nhà,
Nhắn thanh-điểu hỏi chàng Đông-Phương-Sóc.
Cây bàn-đào bây giờ mới mọc,
Biết bao giờ ba vạn sáu nghìn tầm,
Ngô-hoàng chừng bấy nhiêu năm.
NHỚ QUÊ
Hoàng-hạc nhất khứ bất phục phản,
黃鶴一去不復返
Nhác trông lên thăm-thẳm mấy từng lâu.
Người đời xưa văng-vẳng biết về đâu?
Tấm mây bạc xa xa còn ở đó.
Tình xuyên lịch-lịch Hán-dương thụ,[8]
晴川歷歷漢陽樹
Phương thảo thê-thê Anh-vũ châu.[9]
芳草凄凄鸚鵡洲
Ngọn khói tan mặt nước tỏa mù-mù,
Lớp sóng vật chân đèo xô cộn-cộn;
Khi gió thổi lúc bóng hồng gần rụng xuống,
Niềm hương quan tỉnh lại lúc hồn mê.
Tranh đâu nhớ cảnh thôn quê.
MỖI NGƯỜI MỘT THÚ
Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy?
Người một ngày thời giời đất cũng một ngày.
Đã râu mày ai chẳng nam-nhi,
Tiêu-khiển mỗi người riêng mỗi thú.
人乞祭餘驕妾婦
Nhân khất tế-dư kiêu thiếp-phụ,[10]
士甘焚死不公侯
Sĩ cam phần tử bất công hầu.[11]
Cuộc nghìn thu ai dễ biết ai đâu,
Rấp cây cỏ dẫu hiền ngu thì cũng vậy.
Ngoảnh lại tang-bồng là thế ấy,
Cũng chơi nhoàng phiếm trúc giây đàn.
Trần-gian phó mặc trần-gian.
CHINH PHỤ
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,[12]
忽見陌頭楊柳色
Hối dao phu-tế mịch phong hầu.[13]
悔教夫壻覓封侯
Trống Tràng-Thành dục-dã vó long-câu,
Người trong trướng kẻ chân rừng thêm thắc-mắc.
Một chén quan hà lên phố bắc,
Ba chùng sương tuyết chỉ non cao.
Xếp bút nghiên ra mặt lược-thao,
Đạp gai-góc phá tan miền yên-vụ;
Giận thân thiếp chửa nên chinh-phụ,
Vì tình nên ngơ-ngẩn ngẩn-ngơ.
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Tính ngày tháng những mong tin báo-tiệp.
Tung kim chỉ hẹn ngày xưa không cải nghiệp,
Xếp kiếm cung theo việc Lý-Cha-nương;
Cơ[đính chính 1] con trống nhỏ theo chàng.
TRẦN-ĐOÀN
Vạc Chu hầu đổi,
Trần-Hi-Di ẩn núi Họa-Sơn,
Năm mươi năm trong cõi lầm than,
Lửa văn võ chửa cạn lò đan-luyện.
何物老嫗
Hà vật lão ẩu,
Nặng hai vai đôi chữ Thái-Bình.
Nhác trông vừng Tống nhật khai minh,
Mây qúi-thế cuốn từng nơi leo-lẻo.
Trần-Kiều mộng lí giang sơn tiểu,[14]
陳橋夢裏江山小
Vân quán xuân thâm nhật nguyệt trường.[15]
雲舘春深日月長
Rượu một bầu, thơ một túi,
Cờ một cuộc, cầm một chương.
Cơn đắc-ý gật đầu cười ha-hả.
Chốn thành-thị mặc ai xa mã,
Chi trần bất đáo thử giang san.[16]
緇塵不到此江山
Mới hay tiên lại gặp tiên.
TỰ TÌNH
佳人難再得
Giai nhân nan tái đắc,
Chót yêu hoa nên dan-díu với tình.
Mái tây-hiên nguyệt rãi chênh-chênh,
Run-rẩy mấy xuân về oanh nhớ.
Phong lưu tài tử đa xuân tứ,[17]
風流才子多春思
Tràng đoạn Tiêu-Lang nhất chỉ thư.[18]
腸斷蕭郎一紙書
Nước sông Tương một giải nông sờ,
Cho kẻ đấy người đây mong-mỏi.
Bứt-rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi,
Chữ chung tình biết nói cùng ai.
Chót vì gắn bó một hai.
GIỜI CHẲNG CHIỀU NGƯỜI
Tạo-vật sinh nhân tình phú dữ,
Kìa tu-mi son phấn đã an bài.
Uẩy kìa ai khéo dở trò cười,
Đem phong-nhã lộn vào trong Trịnh-nhạc.
Hồng nhan hữu phận ninh hiềm bạc,[19]
紅顏有分寜嫌薄
Bạch-diện đa tình hảo tá xuân.[20]
白面多情好借春
Dưới giăng thanh thấp-thoáng bóng nghê-thường,
Hồn tài tử cũng xiêu về cảnh-vật.
Nực cười nhẽ hiu-hiu gió hất,
Nọ phấn son mà hàn-mặc cũng long hơi.
Trời sao trời chẳng chiều người?
TẶNG ĐÀO-NƯƠNG
Nực cười nhẽ khách chung thị khách,
Nghĩa tương-phùng đồng bệnh phải tương liên.
Người buồn về phận, người giận về duyên,
Tài sắc thế mà sao duyên phận thế?
Kìa son phấn cũng là tuồng gái,
Gánh giang-sơn thôi rầy bắc lại mai đông.
Này tu-mi cũng đáng thân trai,
Nợ lều chiếu buổi sương thu nắng hạ.
Ngã vị thành danh nương vị giá,[21]
我未成名娘未嫁
Toán lai quân thị bất như nhân[22]
算來均是不如人
Người phong-lưu mà vướng bước phong-trần,
Thôi nỗi đấy tình đây khôn xiết kể!
Này tặng biệt mấy lời ghi để,
Nợ bút nghiên ta quyết giả phen này.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay.
CHƠI XUÂN KẺO GIÀ
Nhật trầm tây lạc thủy đông lưu,
日沈西落水東流
Hoa khai xuân hề diệp lạc thu.
花開春兮葉落秋
Lần lữa mãi cũng bạc đầu tráng sĩ,
Thất thập chu nhan năng hữu kỷ,[23]
七十朱顏能有幾
Lão thành hối bất cập như nhân.[24]
老成悔不及如人
Nợ thỉ-cung dan-díu với giang sơn,
Thi-tửu vẽ-vời cho tuyết nguyệt;
Nữa một mai về làng tuổi-tác,
Cuộc cầm thi phó giả mặc đương-thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi.
ANH HÙNG VÔ TẬN
Kỳ phục dã anh hùng vô tận,
Hội phong vân như thủy duyên hài.
Lúc trần-ai ai đã biết ai,
Thời dĩ chí nhân giai vật sắc.
辰己至人皆物色
Cùng đạt nhất sinh thiên dĩ định.
窮達一生天已定
Lý vô tràng phú bất tràng bần.
理無長富不長貧
Ngán thay Y, Lã, thị hà nhân?
Thời vị ngộ cũng canh Sần điếu Vị.
Trong thiên-hạ có đôi đường xuất-sử,
Miễn sao cho tùy nghĩa khuất thân.
Anh-hùng chí chúa trạch dân.
THẾ SỰ
世事多如夢
Thế sự đa như mộng,
Truyện trăm năm tỉnh giấc nhẫn buồn cười.
Gương nhục vinh thiên cổ vẫn còn soi,
Đường ngu-trí phải tùy cơ xuất-sử.
Tràng tiếu Lý-Tư xưng hỗn thử[25].
長笑李斯稱溷鼠
Mỗi đa Trang-Tẩu dụ hi ngưu.[26]
每多莊叟喩犧牛
Ngắm tóc xanh tới lúc bạc đầu,
Xem hay giở cũng một tràng ổi-lỗi.
Chẳng ăn chơi thấm-thoắt giở về già,
Thiên địa cơ dam nhân mạc hội[27],
天地機緘人莫會
Cô tương tình tính ngụ cầm thi[28].
姑將情性寓琴詩
Dẫu vũ-trụ lâu-đài là ảo cả.
May gặp lúc ngoài vòng cương tỏa,
Chơi cho ran tiếng chúc với giây đàn.
Ai ơi chớ vội mơ-màng.
TRUNG THU
Tích niên trung thu nguyệt,
昔年中秋月
Kim niên trung thu nhân.
今年中秋人
Khắp đâu đâu cũng một lương-thần,
Cảnh non nước chơi ra càng thấy rộng.
Kim giạ nguyệt minh nhân tận vọng,
今夜月明人盡望
Bất chi thu tứ tại thùy gia?
不知秋思在誰家
Trên Thanh-giang tranh vẽ một chòm nhà,
Dưới Tiên-Lãnh gương in vài chiếc lá.
Đã biết thú thời chơi cho thỏa,
Mỗi một năm một tháng một đệm thu.
Uẩy làm sao có chè, có rượu. có đèn cù?
Ờ đã đến Trung-thu rứa hử?
Chiều lịch-sự khéo dục người quân-tử,
Khách phong tình vui mấy mặt tri-âm,
Người này giăng ấy năm năm.
CẢNH XUÂN
Xuân sang hoa cỏ thêm tươi,
Khoe mầu quốc-sắc, nức mùi thiên-hương.
HÁT
Tiết xuân tới hơi dương đầm-ấm,
Khí phát sinh rẩy thấm trên cành.
Thử tập bay bướm mới uốn mình,
Muốn học nói oanh còn lạ tiếng.
Liễu hoàn cựu-lục oanh do tĩnh[29],
柳還舊綠鶯猶靜
Đào thí tân-hồng điệp vị chi[30]
桃試新紅蝶未知
Hỏi đông phong mày liễu xanh rì,
Đượm tàn tuyết đầu non trắng xóa.
Buổi hòa lúc khí giời êm-ả,
Hội đạp-thanh sa mã dập-dìu.
Nghìn vàng một khắc xuân tiêu!
CẢNH HÈ
Hè sang tán lửa càng cao,
Khúc ca giải-uẩn lựa vào năm giây.
HÁT
Vận ống tiết vừa sang hạ,
Bính-đinh về hiệu-lệnh Trúc-Dung.
Quanh ngọn tường lửa lựu phun hồng,
Ran mặt nước tàn xen nẩy lục.
Trì đường tịnh trưởng tôn ông trúc[31]
池塘並長孫翁竹
Ly-lạc tề khai tỉ-muội hoa.[32]
籬落齊開姊妹花
Buổi thừa-lương mấy khúc cầm ca,
Trời đất cũng sinh sinh trưởng-trưởng;
Hé mành ngọn nam phong thoảng,
Người Hi-Hoàng âu cũng dường này.
Thú mầu dễ mấy ai hay.
THÚY-KIỀU
| 1. |
Bát ngát nhẽ gió thanh giăng bạc, |
| 2. — |
So tài tình Thúy-Kiều đệ nhất, |
CẢNH THU
Trời thu bảng-lảng sế chiều,
Chim về ngàn ổ, buồm treo sương vàng.
HÁT
Sang thu tiết hơi kim hiu-hắt,
Mầm sen già-lữa chửa phai hương.
Sương pha chồi cúc cánh hoa vàng,
Son nhuộm rừng thông cành lá đỏ.
Lãnh vũ như ti sầu chức giạ[37]
冷雨如絲愁織夜
Tình thiên tác chỉ nhạn thư không[38]
晴天作紙雁書空
Đâu đâu một trận hảo-phong,
Trên cung Quảng xa đưa hương quế.
Trời biếc biếc nước xanh xanh một vẻ,
Khen Hóa-Công khéo vẽ nên đồ.
Một năm dễ mấy mùa thu.
CẢNH ĐÔNG
Giời đông hơi giá như đồng,
Bút xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
HÁT
Sang đông tiết hơi may lạnh-lẽo,
Hội bế-tàng chuyển máy âm-dương.
Trên loi-thoi cánh nhạn che sương,
Dưới thấp-thoáng bóng ngư câu tuyết.
Lăng vân bích lập tùng thiên sích[39]
凌雲壁立松千尺
Nại tuyết hoàng lưu cúc sổ khoa[40]
耐雪黃留菊數科
Ngoài ải-quan tuyết động sương pha,
Kẻ hào-kiệt chốn khê-kiều đắc thú.
Điểm điểm trông chừng đỉnh sấu,
Phút tin xuân đã sế đầu cành.
Mới hay âm cực dương sanh.
NHÂN SINH THÍCH CHÍ
Nhân sinh quý thích chí tu phú quí hà thì
人生貴適志須富貴何時
Nhi cầm, nhi kỳ, nhi tửu, nhi thi,
而琴而棋而酒而詩
Thú vui thú an bần thoát tục.
An phận thân vô nhục,
安分身無辱
Tri cơ tâm tự nhàn.
知機心自閒
Mảng vui chơi dịp phách cung đàn,
Trúc tơ nối tiếng khoan chen tiếng nhặt.
Khóm lý đào đông chật,
Chồi lan huệ xanh tươi.
Một năm mười hai tháng thảnh-thơi,
Ba vạn sáu nghìn ngày thong-thả!
CUNG OÁN
Rầu-rĩ thay chốn thâm cung,
Buồn mới gọi con hầu ra bảo.
Bút chép chữ chân ra chữ thảo,
Giấy đề thơ cảnh hóa thơ sầu.
Sâm thương những giận về nông-nỗi.
Trách ông nguyệt xe tơ bối-rối,
Xe làm sao héo-hắt người ta.
Trêu ngươi chi mấy giăng già?
CƠ GIỜI DÂU BỂ
Cơ giời dâu bể,
Khách hồng-nhan xiết nỗi kể gian-truân.
Mang tấm son đeo đuổi khách hồng-quân,
Nhời vàng đá dám lỗi cùng non nước.
Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc,[41]
玉面豈應埋水國
Băng tâm tự khả đối Kim lang,[42]
冰心自可對金郎
Mười lăm năm thương sót kẻ đôi phương,
Ruột tằm bực đã đành nơi chín suối.
Duyên tái ngộ bởi trời đâu đem lại,
Lửa ba thu một mối cũng rõ-ràng.
Mới hay con Tạo khôn lường!
GIAI TRƯỢNG-PHU, GÁI THUYỀN-QUYÊN
Giai trượng-phu ở cho đáng giá,
Giốc một lòng vàng đá đinh-ninh.
Bất đam hồ nhẫm tịch chi tư tình,[43]
不耽乎袵席之私情
Bất nịch hồ phòng vi chi thiên ái[44].
不溺乎房圍之偏愛
Gái thuyền quyên ở cho có ngãi,
Giốc một lòng sửa túi nâng khăn.
Bất đố kị, bất kiêu căng,
不妬忌不驕矜
Cho vẹn chữ tùng phu xuất giá.
Trai trượng-phu khôn ngoan vì vợ,
Có chữ rằng: như sắt như cầm.
Khăng-khăng kết giải đồng tâm,
NGƯỜI ẨN DẬT
Lâm tuyền một chịch,
Hoa cỏ bốn mùa.
Cúi nhìn xem cảnh vật gồm thu,
Nọ đủ cả giang sơn tám bức.
Viễn quan sơn hữu sắc,
遠觀山有色
Cận thính thủy vô thanh.
近聽水無聲
Càng nhìn sơn-thủy hữu tình,
Xui lòng kẻ tha-hương cố-quốc.
Đầu non nọ người đi thái dược,
Cật lom khom men-móc sườn non,
Lắng tai nghe vượn ru con.
CHÚC ĐỜI BÌNH TRỊ
Long-Thành ngũ thái,
龍成五彩
Gươm báu thiêng chống lại đất Hoành-sơn,
Chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan.
Nay mừng được thánh-quân lên trị.
Nhất thống sơn hà thu vạn lý[45],
一統山河收萬里
Phục hồi cố quốc ức dư niên[46].
復囘故國億餘年
Thuận hồ nhân nhi ứng hồ thiên,
順乎人而應乎天
Thiên địa ứng nhân tâm chi sở tại.
天地應人心之所在
Ra tay chống giang sơn đem lại,
Đem kinh đô về đất Phú-Xuân.
Hoành-sơn nhất đái khả dĩ vạn đại dung thân,
橫山一帶可以萬代容身
NGA-SƠN TIỀU ẨN
Chốn Nga-Sơn tiều-phu ngụ đấy,
Thường thường ra hoán tửu dịch tân.
Chốn thanh nhàn vui thú dưỡng thân,
So phong nguyệt vốn hằng lưu-loát.
Khi ngả nón nằm chơi hóng mát,
Bàn-bạc chơi cổ vãng kim lai.
Khua dịp chân miệng hát ca chơi,
Nghêu-ngao chốn lâm toàn thong-thả.
Nhiệm tha triều thị, nhiệm tha xa mã,[47]
任他朝市任他車馬
Chi trần bất đáo thử giang sơn.
淄塵不到此江山
Thiên mịch mịch thủy sàn sàn
天寞寞水潺潺
Sĩ hữu chí nhiệm kỳ sở thích.
士有志任其所適
Vui thay nhẽ thú miền toàn thạch,
Sẵn nước khe, chè núi, củi rừng.
Tính hay quạt gió đèn giăng,
TRUNG THU VỌNG NGUYỆT
Vẻ thanh soi biết mấy dậm nghìn,
Đâu là chẳng xem vừng nương bóng.
Kim giạ nguyệt minh nhân tận vọng,
今夜月明人盡望
Bất chi thu tứ tại thùy gia?
不知秋思在誰家
Sẵn giang sơn hứng-thích mặc lân-la,
Xin chớ để giăng thanh cười khách tục.
Tửu nhất hồ, cầm nhất trương, ca nhất khúc,
酒一壺琴一張歌一曲
Hứng nam-lâu nào ai có thua ai,
Biết giăng hãi nói giăng chơi.
ĐÊM THU HỘI YẾN
| 1. — |
Hốt nhiên kim tịch hội, |
|
Phong-lưu đọ với dưới này hơn chăng? | |
| II. — |
Khách tử tự lai vô ước thúc[52], |
CHƠI HÁT NGẪU HỨNG (Cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Ngó lui ngó tới,
Có một người phong-nhã nổi thời danh.
Bấy lâu nay tình lại gặp tình,
Lời nguyện ước vẫn đinh-ninh vàng đá.
Tiên lang nhất ngộ tằng tương hứa[54]
仙郎一遇曾相許
Quế điện phiên hương kim kỷ hồi[55].
桂殿飄香今幾囘
Nợ tính tình rầy lắm chị em ơi!
Đã dan-díu chót vay rồi phải giả.
Khi đón gió. khi chờ giăng, khi xem hoa, khi bẻ lá.
Điệu đồng tâm nấn-ná biết là bao.
Một mảnh tơ ông Tạo-Hóa hay trêu,
Duyên đầm-ấm lạt chen vào cay-ngạt.
Mặn không mặn mà nhạt thời không nhạt,
Gần không gần mà xa cũng không xa.
Có chăng ta biết sự ta.
TẶNG CÔ ĐẦU PHẨM (Cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Giạ thâm hốt ức thiếu niên sự[56],
夜深忽憶少年事
Giận hồng-quân ghen-ghét vẻ hồng-quần,
Trải nắng mưa gầy biết mấy phần xuân,
Mà son phấn cũng phong-trần thế nhỉ?
Ý trung nhân ngô lão hĩ[57],
意中人吾老矣
Lệ Giang-châu chan-chứa bởi vì ai?
Tân-chi cựu-hận bời bời,
Tình duyên ấy lôi thôi sao kể siết.
Ngồi hỏi khách biết chăng chẳng biết,
Thương cho tình mà lại tiếc cho tài.
Hay là nhớ nỗi chương-đài,
Sạ-hương mùi cũ, hán-hài thời xưa.
Hay là tưởng nỗi mây mưa?
MAY RỦI
Một rủi một may là máy Tạo,
Cái khôn cái dại cũng bia trần,
Việc đã rồi nghĩ lắm lại thêm đần,
Liếc gươm chí, cắt giặc phiền từ đó.
Nằm khểnh ngâm thơ cho vợ ngủ,
Ngồi rù uống rượu với cơm chơi.
Mô-phạm con, ba đứa mũi chưa chùi,
Tiêu-khiển vẫn mấy cô đào mới nỏi.
Ngoài tai ấy tha hồ ai gọi,
Rằng ngựa trâu vâng cũng ngựa trâu.
Nào đâu đã hẳn hơn đâu.
NỢ PHONG LƯU
Suy mới biết ở đời ai cũng hớ,
Vị tài tình nên vướng nợ phong lưu.
Kho giời chung tiêu phi thấm vào đâu,
Chơi là lãi, dẫu chưa giầu nhưng chẳng kiết.
Trả-trả vay-vay lâu cũng hết,
Co-co cỏm-cỏm chắc hơn ai.
Chỉ chịu thua tay chú thợ giời,
Khéo tỉ-mỉ nặn ra người làm múa rối.
Nào nhục, nào vinh, nào hiển-hối,
Mặt ra hề thay đổi mấy mươi phen.
Chẳng gì hơn rượu thánh với thơ tiên,
Trời đất chẳng dám ghen chi với hắn.
Thế sự phù vân hà túc vấn,
世事浮雲何足問
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
千金散盡還復來
Hay chơi giời cũng chiều người?
TẶNG CÔ ĐÀO CÚC
Quân phi ẩn dật,
Cớ làm sao ái cúc gọi là tên?
Gối bắc-song xem truyện Đào-Tiềm,
Nam-sơn nọ bóng rèm coi thấp-thoáng.
Mạc hiềm lão-phố thu-dung đạm[58]
莫嫌老圃秋容淡
Do hữu hoàng hoa vãn tiết hương[59].
猶有黃花晚節香
Mảnh thu-trinh chớ ngại lúc hàn-xương,
Năm năm hẹn trung-dương tống tửu.
Cười-cợt khách chỉ tùng-vân cựu-hữu,
Hỏi ai là trúc-hữu mai-thê?
Giai nhân hoài bất vong hề!
佳人懷不忘兮
TẶNG CÔ ĐÀO NGỌ
Hốt ức lục thất niên tiền sự,
忽憶六七年前事
Nợ phong-lưu chửa giả hương-nguyền;
Đến bây giờ lại gặp người quen,
Nỗi lưu-lạc sự ghét-ghen là thế thế.
Thiếp tự thân khinh lang vị khí,[60]
妾自身輕郎未棄
Thần tuy tội trọng đế do liên.[61]
臣雖罪重帝猶憐
Vội chi mà tủi phận hờn duyên,
Để son phấn lũ đàn em khúc-khích.
Ý trung-nhân chỉ khả tình tương bạch,
Thôi bút nghiên sinh phách cũng đều sai.
Trông nhau nói nói cười cười.
CẢM HOÀI
Ai ôi má đỏ ra đầu bạc,
Quá ngán hơi vàng để dạ đen.
Công đèo-bòng nhận tính bấy nhiêu niên,
Luống thay cữ giăng đi tuần gió lại.
Phai thắm mùi trần ghê khéo quái,
Họp tan cuộc thế nẩy là sinh.
Trời trêu ngươi sao khoảnh độc trăm vành.
Cho có mắt trắng nhiều, xanh lại ít.
Thôi từ đấy nợ phong-lưu giả hết,
Giã tấm lòng cho nước chảy hoa chôi.
Người mà đến thế thì thôi,
Uẩy ai tiếc ngọc để tôi đợi chờ.
HƯƠNG-SƠN PHONG CẢNH (Chu-mạnh-Trinh)
Bầu giời cảnh phật,
Thú Hương-Sơn ao ước bấy lâu nay.
Kìa non non nước nước mây mây,
Đệ-nhất-động là đây có phải?
Thỏ-thẻ rừng mai chim cúng chái,
Lửng-lơ khe yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chầy kềnh,
Khách tang-hải rật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải-Oan, này chùa Cửa-Võng,
Này hang Phật-Tích, này động Tuyết-Quynh.
Nhác trông lên ai khéo vẽ hình,
Đá ngũ sắc long-lanh như gấm rệt.
Thăm-thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
Gập-ghềnh đôi lối uốn thang mây.
Chừng giang-sơn còn đợi ai đây?
Hay Tạo-hóa sẽ ra tay sếp đặt?
Lần tràng hạt niệm: Nam-vô-phật,
Cửa từ-bi công đức xiết là bao.
Càng trông phong-cảnh càng yêu.
HƯƠNG-SƠN PHONG CẢNH (Thám-hoa Vũ-phạm-Hàm)
Hựu hà tất Bồng châu Doanh hải.
又何必漨洲瀛海
Tiểu sơn-lâm mà có đại-kỳ-quan.
Người tai mắt, kẻ nhân-gian,
Ai chẳng đến Hương-Sơn thì cũng tục,
Kể từ lúc bước lên đò Đục,
Liếc mắt trông đà mãn mục vân sơn.
Lần theo một giải thanh-tuyền,
Nào ngư-phủ nhập đào-nguyên đâu cũng thế.
Mặt giời gác bóng cây xê-xế,
Tản-vân in đáy nước rành-rành.
Chim giời mấy chiếc lênh-đênh,
Cây mai-thụ rập-rềnh năm bẩy lá;
Chú tiều-tử ruổi-rong bến đá,
Lũ ngư-ông quẩy cá qua cầu.
Cỏ cây san-sát một mầu,
Núi trước núi sau mình ở giữa.
Đoàn mục-thụ bóng chiều vừa ngả.
Giắt trâu về lả-tả đầu ghềnh,
Trong hang sâu thăm-thẳm một mình,
Thế mới biết sơn thủy hữu tình là chốn ấy.
Rừng một giải càng trông càng thấy,
Tẻm-tèm-tem mà bụng nghĩ mình nghiêng.
Kìa núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Triêng,
Chưa qua núi lại thấy đò bên cạnh núi.
Thoạt trông thấy biết đâu mà hỏi,
Cầu đăng-tiên nọ chốn đăng-doanh.
Gót in đá biếc xanh-xanh,
Lòng trần-tục bỗng không thanh-thảnh nhẹ.
Cao chót-vót mấy tòa cổ-sái,
Ấy chi chi nọ chái Thiên-Trù.
Giăng trong gió mát một khu,
Ngắm phong cảnh Bồng-Hồ đâu đó tá?
Động đào đã dan tay mở khóa,
Càng nhìn lâu càng rõ càng sinh.
Cây xanh xanh mà lá cũng xanh xanh,
Dưới một núi lại chèo quanh một núi.
Nước công-đức trong ngần không chút bụi,
Đường lên tiên đây là suối Giải-oan.
Thảnh-thơi bạch-thạch thanh-tuyền,
Thế mới biết thần-tiên là diệu-thú.
Thơ rằng:
Bộc bố khê lưu sơn diệc vũ,[62]
曝布溪流山亦舞
Nhân thanh cốc ứng thạch năng ngôn.[63]
人聲谷應石能言
Trông lên giời nhỏ con con,
Mình ta đã lon-chon trên đỉnh núi.
Đứng núi nọ tưởng núi kia là cuối,
Bước chân lên đường núi vẫn không cùng.
Trèo qua một dịp chấn-song,
Đấy mới thực quần-phong chi đệ-nhất.
Niệm nam-vô-a-đi-đà-phật,
Mảng vui chơi mà quên mất đường xa.
Quả mai non với nước mơ già,
Trông chân-cảnh nhìn ra chân-vị.
Trong bụi rậm đàn chim thỏ-thẻ,
Dưới rừng xanh mấy chị tìm mơ.
Lá vàng man-mác ngẩn-ngơ,
Tam-quan đã tờ-mờ đâu đó phải.
Chân bước đi mặt còn ngoảnh lại,
Ước gì đường dài mãi thì hay,
Nào ngờ tiên-lĩnh giời xây,
Lối vào đã vén mây trông rõ.
Vạn trạng thiên hình vô số,
Vẫn hãi còn giấc ngủ lơ-mơ.
Xanh như mây mà đá vẫn chơ-chơ.
Trên vách phấn tờ-mờ cheo giá áo.
Này kho tiền, này kho bạc,
Nay buồng tầm, này lẫm gạo.
Phật Quan Âm thiên-tạo một tòa,
Bốn bề như gấm như hoa,
Đố ai lấy nhân-công mà vẽ được,
Dưới cầu-bạch trong veo đáy nước,
Núi bình-phong đứng trước phật-đình.
Chim gõ mõ, vượn tụng kinh,
Dục lòng khách năm canh chải-chuốt.
Dục đáo Hương-Sơn bất khả ước,
欲到香山不可約
Khen cho ai biết trước cũng là tiên.
Ai ơi chẳng đến cũng hèn!
HƯƠNG-SƠN PHONG-CẢNH (Lê-Thánh-Tôn)
Thú thiên-nhiên đâu bằng Hương-Tích,
Đủ thanh-tao cảnh lịch trăm chiều.
Người thời vui sô-nạp ngư tiều,
Kẻ thời thích yên-hà phong nguyệt.
Kho vô-tận những thế nào chưa biết,
Thú hữu-tình sơn thủy thực là vui.
Khi đăng-lâm có lối đến tận giời,
Mây dưới gót đủ đen, xanh, vàng, đỏ, trắng.
Lúc vào động ngắm sơn-quynh thạch-đắng,
Bút thần-ngoan chưa khéo vẽ cho cùng.
Riêng một bầu sắc-sắc không-không,
Khắp mọi vẻ kỳ-kỳ quái-quái.
Thơ rằng:
Khách chèo non ngảnh lại mà trông,
Lòng mến cảnh dời chân đi hóa đứng.
Chén vân-dịch nghiêng bầu uống gắng.
Bức thơ tiên mở túi liền đề.
Giải-oan ra, tẩy-tục lại thêm hay,
Thiên-trù tới, vong cơ càng thấy khỏe.
Làng thi tửu còn đâu hơn đấy nhỉ?
Chẳng Bồng-Lai, Nhược-Thủy cũng Thần-Tiên.
Rõ-ràng đệ nhất Nam-thiên,
Đem đi sợ dể thần tiên mất lòng.
Thôi thì để đấy chơi chung.
BÓNG ĐÈ CÔ-ĐẦU (Yên-Đổ)
Bóng người ta nghĩ bóng ta,
Bóng ta ta nghĩ hóa ra bóng người.
Tỉnh ra rồi mới nực cười,
Giấc hồ ai khéo vẽ-vời cho nên.
HÁT
Cô đào Sen là người chi-liệu,
Cớ làm sao õng-ẹo với làng nho.
Bóng đâu mày bóng đè cô,
Bỗng thấy truyện nhỏ to thêm thắc-mắc.
Cố hữu diệc vi thân ngoại vật,[66]
固有亦爲身外物
Toán lai đô thị mộng trung nhân.[67]
算來都是夢中人
Sực tỉnh ra nào biết truyện xa gần,
Còn văng-vẳng tiếng đàn cùng tiếng trống.
Quân bất kiến Thiên-Thai động khẩu cần tương tống.
Dẫu bóng ta ta bóng có làm sao.
Thực người hay giấc chiêm-bao?
TỲ-BÀ HÀNH (Nguyễn công-Trứ dịch)
Lác-đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn lau hiu-hắt khí thu mờ.
Lưng giời sóng gợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm trúc thêm tuôn ròng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình già.
Lạnh-lùng dục kẻ tay đao xích,
Thành-quạnh gần xa bóng ác tà.
HÁT
Bến Tầm-Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau-lách đìu-hiu;
Người xuống ngựa, khách rừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh-mông đượm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ đâu thoảng bên sông,
Chủ khuây-khỏa lại, khách dùng-dằng xuôi.
Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Bẵng tiếng đàn nấn-ná làm thinh.
Rời thuyền nèo hỏi thăm tình,
Dong đèn chuốc rượu còn dành tiệc vui.
Mời-mọc mãi thấy người bỡ-ngỡ,
Hãi ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vận đàn mấy tiếng dạo qua,
Khúc tuy chưa chọn, tình đà thoảng hay.
Nghe não-nuột mấy giây buồn-bực,
Nhường than niềm tấm-tức bấy lâu.
Chau mày tay gẩy khúc sầu.
Dã-dề hết nỗi trước sau muôn vàn.
Ngón buông bắt khoan-khoan rìu-rặt,
Trước nghê-thường sau thoắt lục-yêu.
Giây to nhường đổ trận rào,
Tỉ-tê giây nhỏ như chiều truyện riêng;
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy,
Bàn ngọc đâu lần nẩy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu-rít nhau,
Nước tuôn róc-rách, chẩy mau suối ghềnh.
Nước suối mạnh giây mành ngừng-dứt,
Ngừng-dứt nên phút bật tiếng tơ.
Âm-thầm đau giận ngẩn-ngơ,
Vẻ người lặng-lẽ bây giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn dây mặt nước,
Ngựa sắt dong sàn-sạt tiếng dao.
Cung đàn chọn khúc thanh-tao,
Tiếng buông sé lụa lựa vào bốn giây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng-ngắt,
Một bóng giăng trong vắt lòng sông.
Ngậm-ngùi đàn bát sếp xong,
Áo xiêm sửa dáng dậy mong dãi nhời.
Rằng xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Ha-mô thú ở lân-la.
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo-phường đệ nhất chỉn đà chép tên.
Gã Thiện-Tài sợ phen dựng khúc,
Ả Thu-nương ghen lúc điểm tô.
Ngũ-Lăng, Trang-Tử thướng đua,
Biết bao the thắm chuốc-mua ngón đàn.
Vành lược bạc gẫy tan dịp gỗ,
Bức quần-hồng hoen-ố rượu rơi.
Năm năm lần-lữa vui cười,
Mải giăng hoa chẳng đoái-hoài đến xuân,
Buồn em chảy lại lo gì thác,
Lần hôm mai đổi khác hình-dong.
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Về già phải kết duyên cùng khách thương.
Khách trọng lợi khinh đường ly-cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi.
Thuyền không giữ bến mặc ai,
Quanh thuyền giăng dọi, nước trôi lạnh-lùng.
Đêm thu sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Lệ trong huê hoen vẻ phấn son.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu thêm nỗi nỉ-non mấy nhời.
Cùng một lứa bên giời lận-đận,
Gặp-gỡ nhau nọ sẵn quen nhau.
Từ ta kinh khuyết bấy lâu,
Tầm-Dương đất khách gối sầu hôm mai.
Thú cùng tịch khôn bài vui thích,
Tai chẳng nghe đàn-địch cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau già chúc võ nẩy mầm quanh hiên.
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
Quốc kêu sầu vượn nói véo-von.
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lầu Tần tay chuốc chén son riêng ngừng.
Há chẳng có ca rừng địch nội,
Rọng líu-lô buồn nỗi khó nghe.
Đàn tỳ bỗng lắng canh khuya,
Nhường như tiên nhạc gần kề bên tai.
Gượng ngồi lại kể chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng sếp-sửa nhời ca.
Tần-ngần nhường cảm nhời ta.
Súm ngồi bắt ngón, đàn đà kíp giây,
Bực rầu-rĩ khác thay đàn trước,
Khắp mặt nghe tuôn nước lệ rơi,
Lệ ai chan-chứa hơn người,
Giang-châu Tư-mã đượm mùi áo xanh,
CÁI MỪNG TRƯỢT (Bà Nhàn-Khanh)
(Quan ông để món tiền cho nhà-trò, chẳng may đêm mất trộm cả áo cả tiền. Bà làm bài này để rưỡu cô-đầu được cái mừng trượt và chế quan ông).
Thử hồi thiên hạ đô vô sự,[68]
此囘天下都無事
Lúc thanh-nhàn vừa gặp khách ca-nhi.
Ai chiều ai ai có tiếc ai chi,
Mượn tiếng chúc giây ty mà cợt nguyệt.
Ai có biết tình chăng chẳng biết,
Túi chung tình hào-kiệt với thuyền-quyên.
Tiệc vừa xong giấc bướm nào yên,
Dậy sờ túi thì tiền đâu đó tá?
Ngơ-ngẩn vậy chẳng tra chẳng hỏi,
Tâm-sự này biết nói làm sao?
Thôi lấy chi ghẹo mận chêu đào,
Khách tri-kỷ mong sao thì cũng vậy.
Nhiều ít hữu tình chi đấy đấy,
Biết hoa này đừng hẹn với với đông-quân.
Bẽ-bàng thay, khách tình-nhân!
THẤT TỊCH
Chẳng biệt ly ai dễ biết chữ tình.
Hỏi Ô-thước doành ngân khơi mấy dậm?
Ngao-ngán nhẽ: rẽ bảng vàng, phai nét gấm;
Ngậm-ngùi thay: chênh bóng quế, chếch gương thu.
Nhỡn xuyên tràng-đoạn vị khiên ngưu,[69]
眼穿腸斷爲牽牛
Mười hai tháng mới đêm nay là thất-tịch.
Cung nguyệt gác đầu non chênh-chếch,
Lũ hồng-nhan còn ngất-nghểu trên lầu.
Giọt lay thay trận mưa ngâu,
TẦM-DƯƠNG TỲ-BÀ
Tầm-Dương giang đầu giạ tống khách,[70]
潯陽江頭夜送客
Bóng giăng thu soi tỏ bên thuyền.
Đàn tỳ-bà ai khéo gẩy cho nên,
Sui lòng khách thiên-thai luống những.
Ai-oán nhẽ bốn giây văng-vẳng,
Nỗi bất-bình như khấp, như tố, như oán, như than,
Nực cười thay cái phận hồng-nhan,
Nào những khách Ngũ-lăng đâu vắng tá?
Vân thủy mang mang thiên ngũ giạ,
雲水茫茫天正夜
Tỳ bà khúc khúc nguyệt tam canh
琵琶曲曲月三更
Bến Tầm-Dương cảnh ấy biết bao tình.
Chiếc thuyền những đi về trong bóng nguyệt.
Người viễn-thú biết chăng chẳng biết,
Khúc đàn này biết ngỏ cùng ai.
Giang đầu hạnh hữu khách lai.
江頭幸有客來
XÍCH-BÍCH
Thanh phong minh nguyệt,
Tô-Đông-Pha Xích-bích chi du.
Tích phùng thu kim hựu phùng thu,
Thiên tảo hào hình nhân vị lão,
Ngô-đồng nguyệt hướng hoài chung chiếu,
Dương-liễu phong lai diện thượng suy,
Vấn nam-lâu kim giạ hà kỳ?
Giang-sơn chỉ kiến thiên biên nhạn,
Ngọc địch nhất thanh, hàn đăng nhất chản,
Hoài giai-nhân hề bất năng vương.
Thu phong lan tú cúc phương.
NÓI HỚT (cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Thà câm từ thuở sơ sinh,
Nhớn lên nói hớt như ranh làm gì.
HÁT:
Ngó lui ngó tới,
Có một người nói hớt nổi tài-danh.
Hớt truyện người rồi lại hớt truyện mình,
Cất miệng nói đã rành câu nói hớt.
Hớt đâu có hớt,
Chua như chanh. cay như ớt, rẻo như xôi,
Lại pha thêm nửa ngọt nửa bùi,
Góp khôn dại hờn vui làm một tiệc.
Ai nghe hớt biết chăng chẳng biết,
Truyện nhân tình sao xiết thị phi.
Còn nghe nói hớt làm chi.
SỢ VỢ GHEN VỚI CÔ ĐÀO OANH
(Cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Gớm cho cái nợ tình đời,
Đem gương tố-nữ đối người phong huê.
Tin xuân thỏ-thẻ đi về,
Mảng vui oanh nói mà e liễu hờn.
HÁT:
Gượm xin thưa lại:
Hỏi tình-quân rằng phải thế hay không?
Buổi tân-chi chưa vướng lục lây hồng.
Mà phòng trong đã Hà-đông sang-sảng tiếng.
Ngắm vẻ anh hào coi cũng mến,
Kìa đố-hoa còn để truyện ngày xưa.
Chén khuyên chàng ngoảnh mặt làm ngơ,
Đừng liễu cợt giăng mờ chi thóc-mách;
Một mai hỏi tiểu-thư mượn sách,
Giật mình về nỗi khách đa mang.
Nước đời được mấy Thúc-Lang.
TẶNG CÔ ĐÀO GÓA CHỒNG (cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Nghe đàn nhớ lão Chung-kỳ:
Vợ mi ở đó mi đi mô chừ?
Sớm khuya xe tẩu phụng thờ,
Góa chồng cũng thể như chưa có chồng
Lại mưỡu:
Lấy ai là kẻ đồng tâm.
Lấy ai là kẻ tri-âm với nàng.
Đêm khuya luống những bàng-hoàng,
Người đi đâu vắng mà đàn còn đây?
HÁT:
Nhân vong cầm tại,
人亡琴在
Nhớ chàng Hai mà hỏi lại cô Hai.
Tiện đây hỏi một đôi lời,
Đàn bản ấy cùng ai tơ phiếm cũ.
Hồng-phấn kỷ nhân vi quả phụ,[71]
紅粉幾人爲寡婦
Bạch-đầu nan lão Trác-văn-Quân.[72]
白頭難老卓文君
Thế thì khi gió mát, lúc trăng thanh,
Chừng bạch-tuyết dương-xuân còn tưởng nhớ.
Ngồi gượng lại hát chơi lúc nữa,
Ai trách chi tang trở sóm Bình-Khang.
Xưa nay nghề-nghiệp thế thường.
CÁI DẠI (Cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Trăm năm ai chẳng bạc đầu.
Mười điều ai có hay đâu cả mười.
Trông giăng giăng khéo nực cười,
Nhìn hoa hoa cũng lắm lời thế ư?
HÁT
Ngồi mà nghĩ mấy năm về trước,
Chẳng dại nào giống cái dại nào.
Rật mình tưởng giấc chim bao,
Thế mới biết ước-ao là truyện lảng.
Con Tạo khéo chêu ngươi không chán,
Chỉ xui nhau cái dại vô chừng,
Chơi cho phờ râu, cho chớn mắt, cho long giải yếm, cho tụt giây lưng.
Còn tham tiếc lăn lưng vào cuộc dại.
Thôi thôi chớ từ đây dại mãi,
Chữ đa tình là cái vô tình.
Gặp nhau ta thử làm thinh.
TẾT GIÁN CÂU-ĐỐI (Tú-Xương)
Nhập thế cục bất khả vô văn tự,
入世局不可無文字
Chẳng hay-ho cũng phải nghĩ một bài.
Huống chi mình đã đỗ tú-tài,
Ngày tết đến cũng phải một hai câu đối.
Đối rằng:
Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài;[73]
極人間之品價風月情懷
Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt.[74]
最世上之風流江湖氣骨
Viết vào giấy gián ngay lên cột,
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Rằng hay thì thực là hay,
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú-tài.
Xưa nay em vẫn chịu ngài!...
CẬU MÁN (Tú-Xương)
Phong-lưu nhất ai bằng cậu mán,
Trong anh em chúng bạn kém thua xa.
Buổi loạn-ly bốn bể không nhà,
Răng không nhuộm, vợ không lấy, lụa là không mặc;
Mán chỉ làm đủ tiền tiêu vặt,
Khi cao-lâu, khi cà-phê, khi nước đá, khi lại đi xe.
Sự đời mán chẳng muốn nghe.
TÀI TÌNH
Yêu những kẻ văn-nhân tài-tử,
Chót đa mang về một chữ tình.
Nghĩ nguồn-cơn thẹn với giời xanh,
Tưởng nông-nỗi giận cùng giăng bạc.
Tương thức nhất thanh song lệ lạc,[75]
相識一聲雙淚落
Khả liên bán điểm thấp chu huyền.[76]
可憐半點濕朱絃
Trách vì phận, giận vì duyên,
Duyên phận cũng vì tình nên nông-nỗi.
Dầu dạ sắt gan vàng cũng rối,
Vẩn ruột tầm bối-rối càng đau.
Tương-tư ai để cho nhau!
CHẾ THẦY ĐỒ CỔ-NHUẾ (Nghè Tân)
Thầy đồ Cổ là người tài bộ,
Quẩy cầm thư đi giáo-thụ phủ Vĩnh-Tường,
Trước nha-môn thiết một học trường,
Dạy dăm đứa chi hồ giả giã.
Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ,
Ra hồ xem xem ả hái hoa.
Ả hớ-hênh ả để đồ ra,
Đồ trông thấy đồ ngâm ngay tức khắc:
Phong tiền lạn mạn hoa sinh sắc,[77]
風前爛漫花生色
Thủy diện vi mang bạng thổ thần.[78]
水面徵茫蚌吐唇
Đồ ngâm rồi đồ đứng tần-ngần,
Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc-mắc.
Suốt năm canh đồ nằm biếng nhắp,
Những mơ-màng đồ nọ tưởng đồ kia.
Đồ đâu gặp gỡ làm chi!
ÔNG PHỖNG ĐÁ (Yên-Đổ)
Quê đâu tên họ là gì?
Hỏi ra chích-chích chi-chi nực cười.
Vắt tay ngảnh mặt lên giời,
Hay còn lo tính sự đời chi đây?
HÁT
Thấy lão đá lạ-lùng muốn hỏi,
Cớ làm sao len-lỏi đến chi đây?
Hay là vui hoa cỏ nước non này,
Toan chen chóc dan tay vào hội lạc.
Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc,[79]
雲山自笑頭將鶴
Thương hải thùy chi ngã diệc âu.[80]
滄海誰知我亦鷗
Thôi thôi đừng nghĩ truyện đâu đâu,
Túi vũ trụ để đàn sau gánh vác.
Duyên kỳ ngộ là duyên tuổi-tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác.
Cuộc tỉnh say say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu.
CHÁN ĐỜI (Cao-Bá-Quát)
Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy,
Cảnh phù-du trông thấy cũng nực cười.
Thôi công đâu rước lấy sự đời.
Tiêu-khiển một vài chung lếu-láo.
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,[81]
斷送一生惟有酒
Trầm tư bách kế bất như nhàn.[82]
沈思百計不如閒
Dưới thiều quang thấp-thoáng bóng nam-san,
Ngoảnh mặt lại cửu-hoàn coi cũng nhỏ,
Khoảng trời đất cổ kim kim cổ,
Mảnh hình-hài không có có không,
Lọ là thiên tứ vạn chung.
GẶP TÌNH NHÂN (Cao-Bá-Quát)
Tài-tử với giai-nhân là nợ sẵn,
Giải-cấu nan là chữ làm sao?
Trải xưa nay chừng đã xiết bao,
Kìa tan hợp nọ khứ lưu đâu dám chắc.
Dai-nhân khứ khứ hành hành sắc,[83]
佳人去去行行色
Tài-tử chiêu chiêu mộ mộ tình,[84]
才子朝朝暮暮情
Uẩy kìa ai, như mây tuôn, như nước chẩy, như gió mát, như giăng thanh,
Lạ-lùng khéo chêu ngươi chi mãi mãi;
Giời đất có san đi mà sẻ lại,
Hội tương phùng còn lắm lúc về sau,
Yêu nhau xin nhớ nhời nhau.
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy,
Chén đưa nhớ bữa hôm nay.
GẶP Ả ĐẦU CŨ (Cụ Thượng Dương-vân-Trì)
紅紅雪雪
Hồng hồng tuyết tuyết.
Mới ngày nào còn chửa biết chi chi;
Mười lăm năm thấm-thoắt có xa gì,
Chợt ngảnh lại đã đến kỳ tơ-liễu.
Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,
我浪遊辰君尙少
Quân kim hứa giá ngã thành ông.
君今許嫁我成翁
Cười cười nói nói thẹn-thùng,
Mà bạch-phát hồng-nhan chừng ái-ngại.
Vui một thú thanh-xuân đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình.
Đàn ai một tiếng dương tranh.
ĐÙA ÔNG BẠN ĐIẾC (Yên-Đổ)
Trong thiên-hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ-ngơ ngác-ngác ngỡ là ngây.
Ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy,
Nỗi điếc ấy sau này em muốn học.
Tọa chung đàm tiếu nhân như mộc,[85]
坐中談笑人如木
Giạ bán phan viên nhĩ tự hầu.[86]
夜半攀援耳似猴
Khi vườn sau, khi sân trước, khi điếu thuốc, khi miếng dầu, khi trà chuyên năm ba chén, khi kiều lẩy một đôi câu.
Sáng một lúc lâu lâu rồi lại điếc.
Điếc như thế ai không muốn điếc,
Nỗi điếc anh ai học được rư mà.
Hỏi anh anh cứ ập-à!
TỰ TÌNH
Thợ giời sao khéo đa đoan.
Cái danh cũng ghét cái nhàn cũng ghen.
HÁT
Danh giả tạo vật chi sở kỵ,
名者造物之所忌
Ghét chứng chi ghét mãi ghét hoài.
Lúc tuổi xanh ai chẳng cậy tài,
Sức bay nhẩy tưởng ra ngoài đào-trú.
Dẫu chàng hám trấn-đao mấy độ,
Cũng chi-chi chích-chích không nao.
Càng phong-trần danh-giá càng cao,
Dám nghĩ chèn chơi hay ác thiệt:
Đã mang tiếng đứng trong giời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Cuộc trong đời ai chẳng làm lòng,
Nên đè-nén dầy-vò ừ cũng phải.
Chớ như đã đến tuần lão-đại,
Cuộc đời trăm việc đó vâng nhường.
Chút đinh-ninh chẳng dám coi thường,
Mùi hoan-huống, nếp phong-lưu đà gác sạch.
Đem thân thế gửi miền toàn-thạch,
Bán công-danh mà mua lấy cuộc nhàn.
Cớ sao còn giữ mãi thói ghen,
Sai bắt lao-đao hành-khốn mãi.
Khả quái lão thiên đa đố thái[87]
可怪老天多妬態
Trẻ chẳng thương mà già cũng chẳng tha.
Bực mình phải hỏi cho ra.
MẤY KHI GẶP NHAU (Nguyễn-công-Trứ)
Nhân thế hãn phùng khai khẩu tiếu,
人世罕逢開口笑
Khách giang-hồ thường hợp thiểu ly đa.
Nay bắc nam sum họp một nhà,
Gồm đủ cả: thắng-cảnh, lương-thời, thưởng-tâm, lạc-sự.
Hào trúc ai ty dư túy hĩ,[88]
號竹哀絲予醉矣
Thê phong lãnh nguyệt giạ hà như.[89]
凄風冷月夜何如
Thú nguyệt hoa là nợ sẵn với cầm thư,
Cuộc thi tửu để riêng người phong-nhã.
Quân bất kiến: hoa lạc, hoa khai, xuân khứ dã,
Hãy chơi cho lăn-lóc đá kẻo hoài,
Kìa kìa hải giác thiên nhai.
XA CŨNG NHƯ GẦN
Trong bốn bể ai là không tri-kỷ,
Nghĩa tương-phùng tương-đắc hóa tương-thân.
Chót yêu nhau xa cũng nên gần,
Mới phải đứng văn-nhân tài-tử.
Thiên lý tao phùng bình thủy nghĩa,[90]
千里遭逢萍水義
Nhất chiêu khiển-khuyển tất giao tình.[91]
一朝繾綣膝膠情
Người phong-lưu gặp khách thị-thành,
Bao xiết kể tâm tình cho xiết.
Năm ba chén chè liên tống biệt,
Một vài chung rượu cúc giải phiền.
Mới hay thanh-khí cho nên.
MỘT NGÀY LÀ NGHĨA
Ngao ngán nhẽ kẻ về người ở,
Sao kẻ về người ở đôi nơi.
Chuốc chén quỳnh say tỉnh đầy vơi,
Ròng giọt lê bồi-hồi bát-ngát.
Nào những lúc tiếng đàn chen tiếng hát,
Nào những khi ngón phách lẩn cung đàn.
Bấy nhiêu lâu dan-díu biết bao tình,
Mà con Tạo lọc-lừa chi lắm nhẽ?
Chẳng trăm năm cũng một ngày tri-kỷ.
Lúc phân kỳ ai nấy ngẩn-ngơ.
Ai ơi luống những đợi chờ.
CUỐN CHIẾU HẾT NHÂN TÌNH (cụ Thượng Võ-Khoa)
Sách có chữ vô tình tiễn biệt.
Khách với tình xưa quen biết chi nhau?
Quê-quán đâu mà nhà cửa ở đâu đâu?
Ngán vì nỗi nước lã ao bèo thêm đểnh-đoảng,
Dưới nguyệt chén quỳnh khi thắng thưởng,
Tôi hát chơi mà khách cũng nghe chơi.
Thảm-thiết chi mà giọt ngọc tuôn rơi?
Mai mốt đã ngược xuôi người mỗi xứ.
Cô nhạn nam phi hồng bắc khứ,[92]
孤雁南飛鴻北去
Nhàn vân tây vãng thủy đông lưu.[93]
閒雲西往水東流
Khách về nhà đã có bạn khâm-trù,
Vui-vẻ đêm thu cùng mở tiệc.
Đây cũng ôm cầm theo liễu mạch,
Thú cầm ca còn lắm khách vui chơi.
Kìa kìa cá nước chim giời.
VÒNG DANH LỢI
Chen-chóc lợi danh đà chán ngắt,
Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao.
Đám phồn hoa chót bước chân vào,
Sực nghĩ lại rật mình bao kể siết.
Quá giả vãng nhi bất thuyết,
過者往而不說
Cái hình hài làm thiệt cái thân chi.
Cuộc đời thôi thử ngẫm mà suy,
Bạn tùng cúc xưa kia là cố-cựu.
Hẹn với lợi danh ba chén tửu,
Vui cùng phong-nguyệt một câu thơ.
Truyện cổ kim so-sánh tợ bàn cờ,
Riêng vui thú giang sơn phong nguyệt.
Mặc sa-mã thị-thành không dám biết,
Thú yên-hà giới đất để riêng ta.
Nào ai ai biết chăng là.
QUÂN TỬ CỐ CÙNG
Tang bồng là nợ,
Đứng làm giai chỉ sợ đám công danh.
Phú-quí tương dĩ hậu ngô sinh[94].
富貴將以厚吾生
Bần tiện tương dĩ ngọc ngô thành.[95].
貧賤將以玉吾成
Cái vinh nhục nhục vinh là đắp-đổi
Thùy năng thế thượng tranh danh lợi[96],
誰能世上爭名利
Tiện thị nhân gian nhất hóa công[97].
便是人間一化功
Thôi thời thôi quân tử cố cùng.
Cùng khi ấy tất là thông khi khác.
Số tảo vãn tùy cơ phú-thác,
Chớ như ai chi-chắt cũng tay không.
Chơi cho phỉ chí tang-bồng.
NHÂN SINH THÍCH CHÍ
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
人生得意須盡歡
Nào thơ, nào rượu, nào chà,
Nào là con hát, nào là tổ-tôm,
Đường tơ gẩy khúc cao sơn,
Thôi cũng mặc càn-khôn chàn quí-tị.
Mặc bần-tiện mà mặc ai phú-quý,
Hãy ăn chơi cho phỉ chí tang-bồng.
Thơ rằng:
Bất tác phong ba ư thế thượng[98]
不作風波於世上
Tự vô băng thán đáo hung trung.[99]
自無冰炭到胸中
Buổi phong-vân chi vội tao-phùng.
Cơn đắc-táng, hội cùng-thông là thế thế.
Rồi ra nữa buổi đời người thế,
Mang công-danh mà ỷ-thị với giang-sơn.
Chơi cho rõ mặt ngang-tàng.
CỦA ĐỜI NGƯỜI THẾ
Phù sinh nhược mộng,
浮生若夢
Cuộc vi hoan mấy chốc rồi-rào.
Tính đốt tay ngày tháng có là bao.
Trông liếc mắt bóng câu đà sốc-sáo.
Tiền trừ niên thiếu hậu trừ lão,
前除年少後除老
Duy hữu trung gian tam thập niên.
惟有中間三十年
Đàn một cung, cờ một cuộc, rượu một bầu, thơ ngâm một túi.
Dìu-dắt được bao nhiêu là lãi,
Kho vô tận đầy lại vơi, không lại có.
Của giời chung giời lại lấy đi.
Chơi cũng hết chẳng chơi cũng hết,
Ngả bàn tính thử suy cho xiết,
Chớ như ai làm đứa giữ tiền chung.
Kìa như Vương-Khải, Thạch-Sùng,
Thôi cũng chớ tính lạng suy đồng chi bứt-rứt.
Còn nhiều ít hãi tiêu cho hết,
Số phong-lưu giời lại dành cho.
Can gì giữ lấy bo bo.
TỨC CẢNH
Có không không có,
Có rằng không không có cũng ừ.
Đố ai hay giời đất tự bao giờ,
Thời mới biết non sông là mấy tuổi,
Hồn-hồn nhất đại khối,[100]
渾渾一大塊
Diểu diểu như nghĩ quần.[101]
渺渺如蟻羣
Lọt lòng ra ai cũng có quân thân,
Nợ mang lấy lẽ lần-khân phải giả.
Cuộc cổ kim bầy ra lại xóa,
Cái tu mi dù dại cũng khôn.
Xa phương cũng một tiếng đồn.
TIỄN BIỆT
Đào trên mây hạnh trên giời,
Nghĩ chi cho não lòng người như tương.
Nhất ngữ mã tiền tương tặng biệt,[102]
一語馬前將贈別
Cầm thi tương tống cánh tương tư[103]
琴詩相送更相思
Ngại-ngùng thay những lúc phân kỳ,
Khách lên ngựa kẻ buông cầm ngao-ngán.
Thương nhẽ lúc tơ tình bát-ngát,
Tâm sự này len-lén bóng thu ba.
Khi tiếng cầm tiếng điểm lân-la,
Niềm ân-ái vẫn ghi lòng vàng đá.
Tình cảnh ấy dễ đâu khuây-khỏa,
Tiệc quan-hoài tỉnh tỉnh say say.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay.
TRINH PHỤ
Con cò lận lội bờ sông,
Chị ơi hỡi chị theo chồng phải theo.
Vụ diệc vũ tùng trung chi nhất,
鶩亦羽從中之一
Thương cái cò lận lội bờ sông.
Tiếng nỉ-non gánh gạo đưa chồng,
Đường muôn dặm một giời một nước.
Trong bóng nhạn bâng-khuâng từng bước,
Nghe mõ quyên khắc-khoải năm canh.
Phận tép tôm ai nỡ phụ tình,
Ơn thủy thổ phải đền cho vẹn.
Tràng tên đạn xin chàng bảo-trọng,
Thiếp dở về nuôi cái cùng con.
Cao-Bằng cách trở nước non,
Trí trong đã quỷ thần bảo hộ.
Sức bay nhẩy một phen nắng nỏ,
Đá yên nhiên còn đó chưa mòn.
Đồng-hưu nhường chép thẻ son,
Chàng nên danh-giá thiếp còn trẻ trung.
Trăm năm khăng-khít chữ đồng
ĐÁNH TỔ TÔM (Tú-Xương
Bực chẳng nhẽ anh-hùng khi vị-ngộ,
Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm,
Bài chạm thành cuối cánh phỗng ầm-ầm,
Ngồi thôi chẳng bốc quân dác-dảnh,
Cũng có lúc thông chi thời bát sách,
Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng.
Cất bài lên ông lão vẫn lẩn về,
Không đâu cả gặp kề năm bẩy phỗng.
Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng,
Vớ phải thằng bạch-thủ phỗng tay trên.
Gớm-ghê thay đen thực là đen,
Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ.
May-mắn nhẽ hữu duyên năng tái-ngộ,
Bĩ-cực rồi đến hội thái-lai.
Tiếng tam-khôi chi để nhường ai,
Hết bạch lại hồng thông mãi mãi.
Nào những kẻ tay trên tớ ban nãy,
Tới bây giờ thây-lẩy dưới tay ta.
Tiếng bài cao lừng-lẫy khắp gần xa.
Bát vạn người ta ai dám đọ,
Thế mới biết tổ-tôm đen có đỏ.
Thời anh-hùng vị ngộ có lo chi,
Trước sau sau trước làm gì.
CẢNH NHÀN
Nhật trường tự tuế nhàn phương dác,[104]
日長似歲閒方覺
Sự đại như thiên túy diệc hưu.[105]
事大如天醉亦休
Cõi trần-gian rứt mực phong-lưu,
Thứ nhất thú tùng tâm sở dục.
Khi đàn thất huyền cầm, khi ca tứ thời khúc.
Khi trà kim cúc, khi rượu bạch-liên.
Cái vinh khô tố định tự thiên,
Nào ai trần-tục, nào ai tiên-cách.
Đường sĩ-hoạn cũng là trong thanh-bạch,
Cũng chẳng qua giấy rách giữ lề,
Thoảng ngoài mặc tiếng khen chê.
CẢNH PHONG LƯU
Thu thủy tràng thiên nhất sắc,
秋水長天一色
Vẻ phong-lưu rất mực phong-lưu.
Giăng giăng bạc, gió gió vàng,
Dục lòng khách tha-hương tình khiển-hứng.
Chén rượu hoàng-hoa cơn chuếnh-choáng,
Câu thơ bạch-tuyết lúc ngâm-nga.
Bạn cùng người tuyết-nguyệt phong-hoa,
Lấy thi tửu cầm ca làm thích chí.
Cơn lưu-lạc mới trải mùi thế-vị,
Lúc phồn-hoa càng lắm vẻ xuân tình.
Tỉnh ra rồi mới giật mình.
MỐI CHUNG TÌNH
Ca-quản lâu đài ai đó tá?
Hỏi tình kia ai đúc-chuốt cho nên.
Bận vì tình hay bận vì duyên,
Tình duyên ấy bởi đâu dan-díu.
Thiên ký sinh nhân tình tiện hữu,
天旣生人情便有
Tình trường, tình đoản, hựu tình chung.
情長情短又情鍾
Mối tơ-tình quấn-quít biết bao xong,
Chi để khách đa-mang thêm thắc-mắc.
Mượn thử vẽ thư-tình một bức,
Mảnh gương tình muôn kiếp soi chung.
Nợ tình biết giả bao xong,
Duyên hội-ngộ bấy nhiêu năm trước.
Thợ giời toan thu-xếp thế nào đây?
Khách trâm-anh từng nhẹ bước thang mây,
Người phong-các đã hồ tròn trong bóng nguyệt,
Mặt nhìn mặt biết chăng chẳng biết,
Tình gặp tình xuân lại thêm xuân.
Khi trà liên, khi rượu cúc, khi gió mát, khi giăng thanh.
Âu-sầu biết cùng ai san-sẻ,
Chữ chung tình là thế thế.
Mối tơ tình ai gỡ cho ra,
Yêu hoa nên phải tìm hoa.
HOA NGUYỆT
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,
有緣千里能相遇
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
無緣對面不相逢
Cái nguyệt hoa là cái não-nùng,
Người hoa-nguyệt là người phong-nhã.
Thuở trước buồm ngư một lá,
Động Đào-nguyên vui thú-vị ra vào.
Cũng có khi Vương-mẫu hiến bàn-đào,
Đỉnh Vu-giáp chiêu vân mộ vũ.
Thiên thượng nhân-gian tằng tự thú,[106]
天上人間曾似趣
Nga-mi thỏ phách diệc đồng cư.[107]
蛾眉免魄亦同居
Chẳng phong tình ngày tháng cũng là dư,
Nguyên phú dữ tự kiền khôn mới hé.
Hỏi tố-thư ai khéo vẽ?
Truyện Bích-câu-kỳ-ngộ thực khôn-ngoan.
Cho hay con Tạo đa đoan.
PHẬN HỒNG-NHAN (Cao-bá-Quát)
Tự cổ hồng-nhan đa bạc phận,
自古紅顏多薄分
Buồn cho ai mà lại tiếc cho ai.
Duyên tơ hồng nguyệt mỉa-mai cười,
Ngao-ngán nhẽ đào tiên lân cõi tục.
Đã khép gương loan treo giá ngọc,
Chim dầu chim thước đỗ cành mai.
Xuân còn dài duyên phận hãi còn dài,
Thử đủng-đỉnh để xem cơ tiền-định;
Nhắn ông nguyệt sẵn cằm giây sích,
Khách giai-nhân se với khách văn-nhân.
Vinh-hoa cho bõ phong-trần.
NHỚ NGƯỜI VIỄN KHÁCH
Người viễn-khách xa-xôi biên-tỉnh,
Vắng tri-âm trong dạ phàn-nàn;
Vẩn-vơ trong giấc mơ-màng.
Non nước xa khơi nhường phảng-phất.
Tương thân tương ái chi hà nhật,
相親相愛知何日
Đa tư đa tình tổn thiếu-niên.
多思多情損少年
Khi sương sa, khi gió hắt, lúc giăng xuyên,
Mối tình ấy biết cùng ai san-sẻ,
Sầu là thế mà tình-duyên là thế,
Nợ chung tình biết giả bao xong?
Đời người lắm lúc long-đong!
NHỚ CHINH PHU
Trước lầu thú-phụ mưa hoàng-diệp,
Đầu ngựa hành-nhân gió tịch-dương.
Khách thiếu niên vò-võ đôi phương,
Trướng gấm sẽ động lòng nơi ải tuyết,
Vọng Trường-an phiến nguyệt, tắc châm viễn tái chi hàn y.[108]
望長安片月則針遠塞之寒衣
Kiến phế-mạch thùy dương, tức động thú lâu chi hà tưởng,[109]
見廢陌垂楊卽動戌樓之遐想
Ngày lần-lữa thoi đưa bóng thoáng,
Khúc tương-tư ai đặt nên lời.
Vừng trăng ai sẻ làm đôi.
CÁO QUAN VỀ NHÀ
Tiết-Phùng hưu ca lão khứ giã,[110]
薛逢休歌老去也
Đào-Tiềm dĩ phú-quy lai hề.[111]
陶潛已賦歸來兮
Chỉ vân sơn nhận lấy đường về.
Đừng theo đuổi phong-trần chi mãi mãi.
Trời đất nể-nang người khí-khái,
Nước-non bênh-vị mặt tài-tình.
Đạo-Trích lợi, Bá-Di danh,
Thú-lĩnh Đông-Lăng ai phải chẳng?
Thử nhắc đồng cân xem nhẹ nặng,
Chén bây giờ còn e tiếng mai sau.
Dẫu người đá cũng gật đầu.
GIĂNG THU
Nhất thiên lý sắc trung thu nguyệt,
一千里色中秋月
Đới kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu.
帶妓隨波任去留
Thơ lưng túi, rượu lưng bầu,
Tiếng ti chúc nhặt khoan doành nước biếc.
Hồng phấn ca thanh phiên bạch-tuyết,[112]
紅粉歌聲翻白雪
Điêu kềnh lạp ảnh túy thanh niên.[113]
雕檠蠟影醉靑年
Gió giăng chở nặng một con thuyền,
Kho vô tận mặc dầu ai hứng-thích.
Phong-lưu ấy nghìn cân chưa sứng,
Nhác trông ra giăng đã dựng đông.
Vừng giăng đằng-đẵng trên không,
Thiên lý huyền ca khai thắng tịch.
千里絃歌開勝席
Rủ-rê cùng hai ả tới đây,
Bỗng tiếng đâu tích-tịch lưng giời.
Lui gót ngọc bẽ-bàng khôn xiết kể,
Thanh-điệu hữu thời linh bạch tuyết.[114]
淸調有辰聆白雪
Phù-danh tất cánh ngộ hồng nhan,[115]
浮名畢竟誤紅顏
Đương giăng thâu ném sáo quăng đàn.
Trách ông nguyệt ghẹo-chêu chi lắm tá?
Gẫm lại phấn chưa phai, hoa chưa rã,
Ví đem vào kim-ốc há nhường ai?
Từ đâu lỡ một lầm hai?
NHÂN SINH NGHỊCH LỮ (Cao-bá-Quát)
Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ,
人生天地間一逆
Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày.
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay,
Sực nhớ chữ cổ nhân bỉnh-trúc.
Cao sơn lưu-thủy thi thiên trục,
山高流水詩千軸
Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền.
明月淸風酒一船
Dang tay người tài-tử khách thuyền-quyên,
Chén rượu thánh câu thơ thần thích trí.
Thành-thị ấy mà giang-sơn ấy,
Đâu chẳng là tuyết nguyệt phong-hoa.
Bốn mùa xuân lại thu qua.
QUYẾT KHOA
Vị đạt thả đương hành tố vị[116],
未達且當行素位
Ẩn ưu thiên ý ngọc vu thành[117]
隱憂天意玉于成
Bằng chửa bằng dù yến tiếu hồng khinh,
An nghĩa mệnh chớ mẩy lòng vưu-oán.
Nương nương vật hận công danh vãn,[118]
娘娘勿恨功名晚
Lưu đáo lai khoa dã vị trì.[119]
留到來科也未遲
Ngẫm anh-hùng nhỡ bước xưa kia,
Lương-Hiệu, Trần-Tu là mấy kẻ?
Mắt hãi sáng, tay hãi mềm, chân hãi khỏe.
Hội quyết khoa âu cũng có ngày,
Tuồng chi hờn gió giận mây.
ÔNG PHỖNG ĐÁ
(Cụ Phó-bảng Đồng-tỉnh Phan-văn-Ái).
Non thiêng khéo đúc nên người,
Trông chừng xành-xỏi khác người trần-gian.
Trải bao gió núi mưa ngàn,
Đã già già sóc lại gan gan lì.
NÓI:
Gan lì già sóc,
Há non chi mà sợ cóc chi ai!
Người là người tớ cũng là người,
Ngắm cho kỹ vẫn tranh-vanh đầu giốc.
Tương chi tằng thức năng công ngọc,[120]
相知曾識能攻玉
Mạc luyện như hà khả bổ thiên.[121]
莫鍊如何可補天
Thôi mặc ai răng trắng răng đen,
Thế như thế cũng ngồi yên như thế vậy.
Còn giời đất hãi còn tai mắt ấy,
Lặng mà coi họa thấy lúc nào chăng?
Hãi về giã gạo ba trăng!
BẤT NGỘ THỜI (Cao-bá-Quát)
Chẳng lưu-lạc dễ chải mùi trần-thế,
Còn trần-ai khôn tỏ mặt công hầu.
Ngất-ngưởng thay con Tạo khéo cơ-cầu[đính chính 2],
Muốn đại-thụ hãi dìm cho lúng-túng.
Thân hệ bang gia chung hữu dụng,[122]
身係邦家終有用
Thiên sinh hào kiệt bất ưng hư[123].
天生豪傑不應虛
Hãng bền lòng chớ chút oán-vưu,
Thời chi hĩ ngư long biến-hóa.
Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả,
Cũng đừng đem hình-dịch lại cầu chi.
Hơn nhau cũng một chữ thì.
NGHĨ TUỔI GIÀ MÀ LO (Nguyễn-công-Trứ)
Gẫm cho đến bất nhân là Tạo-vật,
Đã sinh người lại hẹn lấy năm.
Kể chi thằng lên bẩy, đứa lên năm.
Dẫu sống ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc.
Mà bận những lợi danh vinh nhục,
Cõi phù sinh đành lắm lúc bi-hoan.
Tưởng đến khi hoa rữa trăng tàn,
Cảnh huống ấy bút thần khôn mạc,
Tế suy vật lý tu hành lạc[124],
細推物理須行樂
Hà dụng phù danh bạn thử thân[125].
何用浮名絆此身
Song bất nhân mà lại chí nhân,
Hạn lấy tuổi để ta chơi lấy.
Cuộc hành-lạc được bao nhiêu là lãi đấy,
Vậy ai ơi chơi lấy kẻo già,
Một năm một tuổi xuân qua.
KIM TIỀN
Phàm kim chi nhân duy tiền nhi dĩ,
凡今之人惟錢而已
Hết tiền tiêu tráng-sĩ cũng nằm co.
Chẳng khôn-ngoan cũng chẳng thân-sơ,
Có hơi kẽm mới tha hồ ngang-ngửa,
Toán lai thế sự kim năng ngữ,[126]
算來世事金能語
Thuyết đáo nhân tình kiếm dục minh.[127]
說到人情劍欲鳴
Dơ-dáng thay những mặt tài tình,
Co-quắp lắm cũng ra hình thủ-lỗ.
Nghìn vàng hết hết rồi lại có,
Chữ bất nhân tạc đó không mòn.
Ai ôi! giữ lấy lòng son!
GIĂNG THU
Sinh thay tiết thu thiên quang cảnh.
Khi Lạc-Hà giãi bóng tà-dương.
Một con thuyền giậy hát bên giang,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc,
秋水共長天一色
Vừng ngọc-thỏ in sông vằng-vặc,
Giữa giang tâm bóng lộn mấy từng.
Trên một giăng, dưới một giăng,
Xui lòng kẻ hữu-tình ngao-ngán.
Thùy bả kim bôi phân lưỡng đoạn[128],
誰把金杯分兩段
Bán trầm thủy để bán thiên thai,[129]
半沈水底半天台
Vầng giăng ai sẻ làm hai,
Nửa in dưới nước nửa cài trên không.
Nước mây thăm-thẳm một giòng.
LƯ GIANG
Sinh thay mấy Lư-Giang phong nguyệt,
Nước trong xanh lẫn với sắc giời xanh.
Sóng nhấp-nhô toan nhẩy lên ghềnh,
Bóng cổ-thụ rung-rinh muốn lội.
Chiếc ngư-ông ra vào len-lỏi,
Buông chài hoa tựa lái bên sông.
Vạch ngàn lau tìm lối thong-dong.
Nương gậy trúc lên đường đủng-đỉnh.
Trong lữ-quán lâm-dâm đèn hạnh,
Ngoài phế-đê lấp-lánh gương thu.
Sinh thay cảnh vật sông Lư.
TÌNH LÀ DẠI
Cái tình là cái dại,
Nợ phong-lưu rước lấy mà chơi.
Nực cười thay chẳng gốc đẻ ra lời,
Đố ai rũ làm sao cho trắng khỏi.
Đám tẻ vui quanh trò múa rối,
Cuộc tỉnh say lẩn giấc chiêm bao.
Thôi đoái thương, phỏng nhớ lại vơ sầu.
Lẩn-thẩn, hẹn-hò giăng, van-vỉ gió.
Ấy mới biết tình-kỳ là nợ đó,
Uẩy thợ giời còn vẽ ra chi?
Thà ngu, thà ngốc, thà si.
THĂM CÔ-ĐẦU ỐM (cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Trông nấp bóng ra chừng liễu-yếu,
Bệnh đông-phong sao khéo nực cười.
Trộm nghe sương tuyết hơi hơi,
Cơm với thuốc ngày sơi độ mấy?
Thức hay ngủ cớ sao làm vậy?
Hãi tung màn gượng dậy làm vui.
Nét hoa kém phấn thưa cười,
Lòng chiều khách đã nguôi-nguôi thế chửa?
Đàn cầm sắt gẩy chơi lúc nữa,
Chén hoàng-mai còn được nửa hay không?
Nàng rằng vâng cũng chiều lòng?
GIAI NHÂN (Cao-bá-Quát)
Giai nhân nan tái đắc
佳人難再得
Chót yêu hoa nên dan-díu với tình.
Mái tây hiên nguyệt gác chênh-chênh,
Rầu-rĩ lắm xuân về oanh nhớ.
Phong-lưu công tử đa xuân tứ[130],
風流公子多春思
Trường hận Tiêu-tương nhất diệp thi[131].
長恨瀟湘一葉詩
Nước sông Thương một giải nông sờ,
Cho kẻ đấy người đây mong-mỏi.
Bứt-rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi,
Chữ chung tình biết nói cùng ai.
Quản chi gắn-bó một hai.
CÔNG DANH (Nguyễn-công-Trứ
Tang bồng hồ thủy nam nhi trái[132]
桑蓬弧矢男兒債
Cái công danh là cái nợ-nần.
Nặng-nề thay hai chữ quân-thân,
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẽ.
Cùng khắp điền-viên vui thú-vị,
Chót đem thân-thế hẹn tang bồng.
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung,
Hết hai chữ chung trinh báo-đáp.
Một mình để vì dân vì nước,
Túi kinh luân nghìn trước để nghìn sau.
Hơn nhau một tiếng công hầu.
THỀ NON NƯỚC
Nhân sinh dương thế,
人生陽世
Chiếc thoi đưa ba vạn sáu nghìn ngày.
Nợ phong-tình kẻ giả người vay,
Đường thiên-lý thấy hoa rơi ai chẳng nhặt.
Nghĩ thế sự lắm đường bứt-rứt,
Rắt-ríu nhau vào nợ sắc chi.
Kiếp hồng-nhan đã quá nửa thì,
Mà Tạo-hóa khéo ghét-ghen chi mãi mãi?
Ngán thay chữ thanh-xuân bất tái,
Muốn bắc thang lên hỏi chín tầng mây.
Rằng duyên rằng nợ chi đây?
Nợ chưa giả duyên kia sao đã buộc?
Phen này quyết chí thề non nước,
Thử xem con Tạo đặt mình nơi nao?
Nào ai quân tử hảo cầu?
THIÊN-THAI
Lạ-lùng thay cảnh Thiên-Thai,
Bồng-Lai khi cũng thế này mà thôi.
HÁT
Sinh thay nhẽ Thiên-Thai cảnh lạ.
Dưới Trần-ai một áng non Bồng.
Đầu non mây tỏa ngất trên không,
Cửa động gà kêu vang bóng nguyệt.
Bích xa động lý càn khôn biệt[133],
碧沙洞裏乾坤別
Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường[134].
紅樹枝邊日月長
Nước lao-đao điểm-đót khúc xinh-hoàng,
Mây lác-đác mỉa-mai con điểu-thước.
Hoa hớn-hở nhị hồng chen nhị bích,
Lũ hai bên kẻ đón người đưa.
Lạ-lùng thay cảnh Thiên-Thai.
XUÂN BẤT TÁI
Tá vấn nhân gian xuân kỷ-độ?
借問人間春度幾
Bóng tà-dương đã sẽ về tây,
Khi thanh-nhàn ngồi tính đốt ngón tay,
Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy?
Cũng chẳng qua lần năm tháng ấy,
Trinh mà chi mà tiết nữa mà chi.
Sau trăm năm cỏ mọc xanh rì,
Hồi tưởng lại xuân tình cũng thiệt.
Bạc-mệnh hồng-nhan thôi đã biết,
Của đời người thế có riêng ai.
Làm chi một đóa thương-đài,
Mà khe-khắt để lắm người suy-vi.
Phen này quyết mở màn phong-nguyệt,
Vạch bốn bên cho rộng mà chơi.
Nghĩ nhân gian lắm sự nực cười,
Then khóa cũng bỏ vào câu xuân-bất-tái.
Cũng có lúc tiếc xuân mà ngảnh lại.
Sao trước kia chẳng liệu cho rồi?
Nhân-tình thế-thái ai ôi!
CHÁN ĐỜI (Cao-bá-Quát)
Vắt tay nằm nghĩ truyện đâu đâu,
Đem mộng sự đối với quân-thân thì cũng mệt.
Duy giang thượng chi thanh phong,
惟江上之淸風
Dữ sơn gian chi minh nguyệt.
與山間之明月
Kho giời chung mà vô tận của mình riêng,
Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,
Kẻ thành thị kẻ vui miền lâm tẩu,
Gõ dịp lấy đọc câu tương-tiến-tửu,
Quân bất kiến Hoàng-Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi[137]
君不見黃河之水天上來奔流到海不復囘
Làm chi cho mệt một đời.
NGÀY THÁNG THANH NHÀN (Nguyễn-công-Trứ)
Thị tại môn tiền náo,[138]
市在門前鬧
Nguyệt lai lâm hạ nhàn.[139]
月來林下閒
So lao tâm lao lực cũng một đoàn,
Người nhân-thế muốn nhàn sao được.
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,
Dẫu giời cho có tiếc cũng xin nài,
Cuộc nhân sinh chừng bẩy tám chín mười mươi,
Mười lăm trẻ, năm mươi già không kể.
Thoạt sinh ra thì đã khóc chóe,
Trần có vui sao chẳng cười khì.
Khi hỉ lạc, khi ái-dục, lúc sân-si,
Chứa chi lắm một bầu nhân-dục?
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc?
知足便足待足何辰足
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?
知閒便閒待閒何辰閒
Cầm kỳ thi tửu với giang-san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.
Ngã kim nhật tại tọa chi địa,[140]
我今日在坐之地
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi.[141]
古之人曾先我坐之
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Sích-Bích buông thuyền năm Nhâm-Tuất,
Để ông Tô riêng một thú thanh-tao.
Chữ nhàn là chữ làm sao?
CÔNG DANH (Nguyễn-công-Trứ)
Ba vạn sắu nghìn ngày thấm-thoắt,
Tự mọc răng cho đến bạc đầu.
Cõi nhục vinh góp lại chửa bao lâu,
Ngồi thử ngẫm sự đời thêm khéo quá.
Núi tự-tại cớ sao sông bất sả?
Chim thì lông, hoa thì cánh,
Khéo công đâu thừa trừ từ nghìn trước đến nghìn sau.
Kết cục lại mỗi người riêng một kiếp,
Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp,
入世局不可無功業
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.
出母懷便是有君親
Mà chữ danh liền với chữ thân,
Thân đã có ắt danh âu phải có.
Này phút chốc kim rồi lại cổ,
Có hèn gì sau chẳng bằng nay.
Râu mày kìa hỡi râu mày.
CÔNG ĐÂU MÀ NGHĨ (cụ Thượng Nhu)
Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ,
人生天地間一逆旅
Thôi công đâu mà rước lấy sự trần-gian.
Như chiêm bao, như mây nổi, như xương tan,
Cơn đắc, táng, bi, hoan, đành có lúc.
Vài chung phong nguyệt bầu kim cổ,
Mấy khúc sơn hà túi gió giăng.
Cuộc tẻ vui vui tẻ so bằng,
Ai cõi thế chắc rằng không với có?
Kìa Vương-Khải Thạch-Sùng thuở nọ,
Dẫu đến nay tắc lưỡi cũng là hư.
Làm chi giữ lấy khư khư?
THANH PHONG MINH NGUYỆT (cụ nghè Ngô-thế-Vinh)
Giang tâm thu nguyệt bạch,
江心秋月白
Não-nùng thay khi gió mát lúc giăng thanh.
Bóng thiềm soi đáy nước long-lanh,
Quang cảnh ấy cũng thanh mà cũng lịch.
Vạn lãi tịch nhiên thu giạ vĩnh.[142]
萬籟寂然秋夜永
Nhất hồ oánh nhĩ nguyệt minh thâu.[143]
一壹瑩爾月明收
Đàn năm cung, thơ một khúc,
Cờ một cuộc, ruợu một bầu,
Tiếng ca quản một vài câu khiển hứng.
Chèo mấy mái thuyền lan lững-thững,
Bạn mấy người tài tử tiêu-dao.
Non mấy từng đá mọc so-le,
Cầu một dịp bắc ngang sông Vị-thủy.
Hội Xích-Bích nọ năm Tuất nhỉ?
Thú phong-lưu há để một Tô-Công?
Giăng thanh gió mát kho chung.
ĂN CHƠI (cụ nghè Ngô-thế-Vinh)
Nhân sinh thích trí,
人生適志
Chẳng gì hơn tiền cho nhiều, vợ cho đẹp,
Đàn cho ngọt, hát cho hay;
Nợ phong-lưu chơi hết lại vay,
Kho vô-tận không rồi lại có.
Mãn viện lý đào như hữu chủ,[144]
滿院李桃如有主
Bách ban hoa thảo cánh thâu thùy.[145]
百般花草更偸誰
Khi cung đàn, khi chén rượu, khi túi thơ.
Thu-xếp cả phiền-hoa vào một cục,
Thú-vị ấy chơi cũng tục mà chẳng chơi cũng tục,
Chơi thì chơi cho nước Tấn sang Tần,
Cho nước Sở sang Hán, cho nước Ngô sang Lào.
Biết đâu rồi chẳng chiêm bao.
MẸ MỐC (Yên-Đổ)
So danh giá ai bằng mẹ mốc,
Ngoài hình hài gấm vóc cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc[146],
外貌不求如美玉
Tâm trung thường thủ tự kiên kim[147].
心中常守似堅金
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Dù son-sắt êm-đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết;
Mảnh gương trinh vằng-vặc quyết không nhơ.
Đắp tai ngảnh mặt làm lơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại này.
CHƠI TÂY-Hồ (Yên Đổ)
Thuyền lan nhè nhẹ,
Một con thuyền đủng-đỉnh giạo hồ Tây.
Sóng rập-rờn sắc nước lẩn chiều mây,
Bát-ngát nhẽ để ghẹo người du-lãm.
Yên thủy mang mang vô hạn cảm[148],
烟水茫茫無限感
Ngư long tịch-tịch thục đồng tâm[149].
魚龍寂寂孰同心
Rượu lưng bầu mong-mỏi bạn tri-âm,
Xuân vắng-vẻ biết cùng ai ngâm họa?
Gió hây-hẩy nực mùi hương sạ,
Nhác trông lên vách phấn đã đôi bài.
Thơ ai xin họa một vài.
CHƠI CHO THÍCH (Quan đốc Trần-lê-Kỷ)
Từ lên một đến mười lăm còn trẻ nít,
Bốn mươi năm cút-kít đã về già.
Tính trong vòng cắn đá với giăng hoa,
Ba mươi năm là sắp kiệt,
Thế mà còn đi học, đi hiệc, đi thi, đi thiếc,
Khi đỗ, khi điệc, làm quan, làm kiếc;
Việc đời vấn-vít biết bao ngơi?
Giời đã sinh ra kiếp làm người,
Chả chơi thì người cười ra chú vích.
Được ngày nào ta chơi cho thích,
Có phong-lưu thanh lịch mới là giai.
Thấy ai ai ta cũng ai ai,
Ai ai ấy thì ta cũng ấy.
Chớ có quở chữ dâm là chữ bậy,
Nếu không dâm sao nẩy ra hiền.
Nhủ em em chớ giữ-gìn.
MỪNG ÔNG DU-LÂM ĐỖ TIẾN SĨ (Dương-Lâm)
Giai nhân hà tất kiều như ngọc,[150]
佳人何必嬌如玉
Chữ duyên may đạp đổ phận hồng-nhan.
Kìa những người xe ngựa chan chan,
So ngón kẽ đã thua nhau ngàn với vạn.
Mai phóng hạnh tiên, tiếu hạnh vãn,[151]
梅放杏先笑杏晚
Hạnh khai mai hậu, thán mai suy.[152]
杏開梅後嘆梅衰
Xin đừng đem tài-sắc đánh ghen chi,
Trăm năm ấy đường đi lối bước,
Nhắn những kẻ đường mây bước trước,
Sẽ rừng roi đợi kẻ sau này.
Chắc rằng ai dở ai hay?
MỪNG KHÁNH-THÀNH SINH-TỪ (Dương-Khuê)
Ấy ai đi nhớ sống thờ,
Tống-khê Tướng-quốc Sinh-từ kia kia.
Tầng lâu các họa thơ đề,
Nghiễn bi thuở trước, nùng bi thuở này.
Lại mưỡu:
Giang sơn riêng thú thanh kỳ,
Có lầu, có tháp, có bia công-thần.
Giữa giời một gác khuê-văn,
Chùa tiên bên nớ, miếu thần bên ni.
HÁT:
Thừa tướng đại danh thùy vũ-trụ[153],
丞相大名垂字宙
Sinh-từ trường dữ thử giang-sơn[154].
生祠長與此江山
Thú vui chơi thắng-tích, kỳ-quan,
Miền thủy-nhiễu hoa-hoàn coi cũng rứa.
Ngấn tuyết-chảo vãng, hoàn, lưu, khứ,
Dịp tuần hồng nhứ-nhứ ti-ti,
Hát rằng: vô dĩ công quy,
Một tiếng trúc giây ty là một nhớ.
Hỏi lại cỏ hoa đà biết chửa?
Nước non còn đó bởi vì ai?
Còn sông Tô, Nhị còn dài,
Còn bia Nùng, Khán còn nhời niềm ân.
Trăm nghìn bái chúc thần-quân.
CHƠI GIĂNG (Dương-Khuê)
Cao sơn nhất phiến nguyệt,
高山一片月
Đã chơi giăng phải cho biết tình giăng.
Sơn chi thọ đối với nguyệt chi hằng,
San có nguyệt càng thêm cảnh sắc.
Nguyệt quải hàn san thi bán bức,[155],
月掛寒山詩半幅
Sơn hàm minh nguyệt tửu thiên tôn.[156]
山含明月酒千樽
Giăng chưa già núi hãy còn non,
Núi chưa khuyết giăng vẫn tròn với núi.
Rượu một bầu thơ ngâm một túi,
Góp gió giăng làm bạn với non sông.
Núi kia tạc để chữ đồng,
Giăng kia nhớ mặt anh-hùng này chăng?
Sinh thay kìa núi nọ giăng.
TẶNG CÔ ĐÀO CẦN (Cụ Thượng Dương-Vân-Trì)
Tiễn ai chi liễu giang-đình,
Bận ai chi mối tơ tình vương chơi.
Chắc ai đã nhớ đến lời,
Biết ai đã nhớ đến người xa-xa.?
Lại mưỡu
Xin ai đừng có quên ai,
Bức hồng cân đó là lời cựu-minh.
Chiêm-bao lẩn-quất quế-đình.
Nhớ ai ai có biết tình cho ai?
HÁT
Tình thư một bức,
Hỏi tình-nhân rằng có nhớ hay quên?
Khách má hồng vừa mới bén hơi duyên.
Lúc tương-ngộ lại thêm phiền tương biệt.
Quân khứ lưu tình Tô thủy nguyệt[157]
君去留情蘇水月
Khách qui tần vọng Nhị hà vân.[158]
客歸頻望珥河雲
Ai nhớ ai luống những tần-ngần,
Để quạt ước hương nguyền chờ đợi đó.
Hỏi thăm lối phù dung vườn cũ,
Hẹn hoa này chớ phụ với đông-quân.
Nào ai ngăn-đón vườn xuân.
- ▲ Cầm đuốc chơi đêm, ý nói người nhàn.
- ▲ Bằng đợi lúc công thành danh-toại
- ▲ Một đống sương già đã chồng chất.
- ▲ Trong vũ-trụ vạn cổ dõi luân thường.
- ▲ Một lòng chung nghĩa báo quân vương.
- ▲ Sao không sớm về Ngũ-Hồ theo Phạm-Lãi
- ▲ Để nỗi Trương-Lương hơn tam kiệt.
- ▲ Sông tình (lạnh) man-mác vùng Hán-Dương.
- ▲ Cỏ thơm lạnh-lẽo châu Anh-Võ
- ▲ Người ăn mày chỗ đám ma còn kiêu căng với hai vợ. Truyện người nước Tề bên Tầu.
- ▲ Người học trò chịu chết cháy không chịu phong hầu. Truyện ông Giới-Tử-Thôi đời Chiến-Quốc.
- ▲ Chợt thấy bóng dương liễu đầu đường.
- ▲ Phàn-nàn chồng xay đắm lối công hầu
- ▲ Giấc ngủ Trần-Kiều giang sơn nhỏ
- ▲ Ngày xuân vân quán ngày tháng dài.
- ▲ Bụi dơ không đến được giang sơn này.
- ▲ Tài tử phong lưu nhiều thú xuân.
- ▲ Tràng Tiêu đứt ruột một tờ thư.
- ▲ Hồng nhan có phận đừng e bạc.
- ▲ Bạch diện đa tình khéo mượn xuân.
- ▲ Ta chửa thành danh nàng chửa cưới.
- ▲ Tính lại đều là chửa bằng ai.
- ▲ Bảy mươi còn khỏe ít ai được.
- ▲ Tuổi già hối chẳng kịp bằng người.
- ▲ Đáng cười Lý-Tư xưng Hỗn-thử, Lý-Tư nhà Tần làm nhiều điều bạo-ngược.
- ▲ Từng khen Trang-Tẩu nói hi-ngưu, ông Trang-Chu nói học đạo ví như mổ con trâu, trước khó sau làm quen cũng dễ.
- ▲ Then máy giời đất người khôn biết.
- ▲ Hãi đem tình tính ngụ cầm thi.
- ▲ Liễu mầu xanh cũ oanh còn nín
- ▲ Đào phơi mầu mới bướm chưa thông,
- ▲ Trúc mộc rìa ao cây cao thấp.
- ▲ Hoa nở trên rào đóa trước sau.
- ▲ Một mảnh tài tình lụy đeo ngàn năm.
- ▲ Khúc hát hay những thương vì ai.
- ▲ Giấc mộng đoạn-trường căn-duyên hết,
- ▲ Khúc đàn bạc-mệnh oán-hận còn.
- ▲ Sầu tơ mưa lạnh đêm buồn rệt,
- ▲ Giấy trắng giời quang nhạn vắng tin
- ▲ Tùng cao nghìn thước chạm mây xanh
- ▲ Hoàng cúc mấy giò quen tuyết trắng
- ▲ Mặt ngọc nhẽ nào chôn đáy nước. —
- ▲ Lòng băng còn khá đối chàng Kim —
- ▲ Không đam về tình riêng chăn chiếu. —
- ▲ Chẳng đắm về lòng yêu nơi màn trướng,
- ▲ Thu muôn dậm non sông về một mối,
- ▲ Lấy lại nước cũ hơn ức năm về trước
- ▲ Mặc ai trong triều, ngoài chợ, mặc ai lên xe xuống ngựa. —
- ▲ Đêm thu mây tạnh giăng mọc nơi thương hải —
- ▲ nửa đêm xương lạnh đương lúc giời xanh biếc.
- ▲ Khúc ca khôn hết câu cao hứng —
- ▲ Lại muốn đè mây tới cung Quảng-Hàn.
- ▲ Khách du tự lại nào đâu ước
- ▲ Chủ nhân vả lại rất phong-lưu.
- ▲ Chàng tiên một gặp dường như hẹn
- ▲ Điện quế bay hương đã mấy hồi.
- ▲ Đêm khuya sực nhớ những việc hồi còn trẻ.
- ▲ Bây giờ ta già vẫn nhớ người yêu-mến.
- ▲ Chớ hiềm vườn lão vẻ thu nhạt,
- ▲ Còn có hoa vàng tiết muộn thơm.
- ▲ Mình thiếp dù khinh chàng không nỡ bỏ;
- ▲ Tội bầy tôi dẫu nặng vua còn thương.
- ▲ Bóng dương, làn suối, non nhường múa.
- ▲ Người nói, hang reo, đá muốn thưa.
- ▲ Động chủ có thiêng còn nét bút,
- ▲ Thợ giời vô ý khéo phô-bầy.
- ▲ Dù có cũng là thân ngoại vật,
- ▲ Tính ra thôi cũng giấc mơ-màng
- ▲ Bấy giờ thiên hạ đều vô sự.
- ▲ Mỏi mắt đau lòng vì chàng Khiên-ngưu,
- ▲ Bến Tầm-Dương canh khuya đưa khách.
- ▲ Hồng phấn mấy người đành ở hóa.
- ▲ Bạc đầu khôn đọ Trác-văn-Quân
- ▲ Phẩm-giá tót hơn người, lòng mến gió giăng
- ▲ Phong-lưu nhất đời, khí cốt giang hồ.
- ▲ Quen nhau một tiếng đôi hàng lệ,
- ▲ Khá tiếc nửa vời ướt mối tơ.
- ▲ Trước gió phất-phơ hoa nẩy sắc.
- ▲ Mặt dòng thấp-thoáng hến thè môi
- ▲ Non mây tự riễu đầu như hạc.
- ▲ Bể rộng nào hay ta cũng là chim âu
- ▲ Suốt đời chỉ tiễn đưa nhau bằng chén rượu. —
- ▲ Nghĩ kỹ trăm đường không gì bằng nhàn. —
- ▲ Vẻ người giai-nhân khi đi về, —
- ▲ Lòng người tài-tử khi hôm sớm.
- ▲ Trong khi cười nói người như gỗ,
- ▲ Đêm vắng chèo leo tai tựa hầu.
- ▲ Ghê cho trẻ Tạo ghen chi mấy.
- ▲ Trúc tơ réo-rắt ta say nhỉ?
- ▲ Giăng gió buồn teo dạ thế nao?
- ▲ Nghìn dậm tao phùng duyên bèo nước.
- ▲ Một mai gắn bó nghĩa keo sơn.
- ▲ Hồng bay sứ bắc, nhạn về nam.
- ▲ Mây bay về tây, nước chẩy bên đông.
- ▲ Giầu sang làm cho đời mình được thêm giài.
- ▲ Sự nghèo hèn làm cho mình nên nhiều điều hay. —
- ▲ Ở trên đời ai hay tranh được danh lợi. —
- ▲ Thực là một ông giời con dưới thế-gian.
- ▲ Trên đời sóng gió đừng khua rối
- ▲ Trong dạ vàng than chẳng vướng-víu.
- ▲ Lằng-lặng một khối lớn.
- ▲ Mỏn-mọn như đàn kiến.
- ▲ Trước yên cười nói câu từ rã.
- ▲ Đưa tiễn cầm thi luống ngẩn-ngơ.
- ▲ Ngày dài như năm nhàn mới biết;
- ▲ Việc to như giời say cũng xong.
- ▲ Trên giời mặt đất dường cùng thú,
- ▲ Thỏ phách nga mi cũng một nhà.
- ▲ Trông mảnh giăng nơi Tràng-An đã may sẵn áo rét cho người lính nơi ải xa. —
- ▲ Thấy cây Dương-liễu nơi đường hẻm sực nhớ nỗi xa-xôi vòm quân lính. —
- ▲ Ông Tiết-Phùng thôi không hát câu lão khứ dã. —
- ▲ Ông Đào-Tiềm đã làm bài qui lai hề.
- ▲ Hồng phấn tiếng ca chen tuyết trắng
- ▲ Điêu kềnh bóng nến mệt đầu xanh.
- ▲ Thanh điệu có khi nghe bạch tuyết,
- ▲ Phù danh hết thảy rử hồng nhan.
- ▲ Khi chưa thành-đạt hãi nên yên phận mình. —
- ▲ Thầm lo nhẽ giời tất nên việc —
- ▲ chớ nên phiền công danh muộn.
- ▲ Hãi để khoa sau cũng chưa chậm,
- ▲ Sách có câu: « Tha sơn chi thạch khả dĩ công ngọc » nghĩa là hòn đá núi kia có thể rũa thành ngọc; ý nói người biết làm lành bỏ dữ. —
- ▲ Không luyện đá sao vá được giời. Sách có chữ luyện thạch bổ thanh thiên, nghĩa là luyện đá vá giời. Đây ý nói muốn làm việc gì phải công-phu.
- ▲ Thân quan hệ đến nhà nước là thân hữu dụng. —
- ▲ giời sinh hào kiệt không phải là hư sinh. —
- ▲ ngồi nghĩ kỹ ra không gì bằng mua vui, —
- ▲ không dùng hư danh buộc thân này
- ▲ Tính lại việc đời vàng muốn nói. —
- ▲ nói đến nhân tình kiếm muốn reo, —
- ▲ ai cầm chén ngọc chia đôi đoạn. —
- ▲ nửa chìm đáy nước nửa Thiên-thai
- ▲ Công tử phong lưu nhiều ý xuân. —
- ▲ Luống giận một lá thơ sông Tiêu-Tương.
- ▲ Tang bồng hồ thỉ là nợ người nam-nhi.
- ▲ Trong động cát biếc trông giời đất khác ngoài.
- ▲ Bên cành cây đỏ, ngày tháng giài.
- ▲ Việc đời lên xuống không cần hỏi —
- ▲ chiếc thuyền len-lỏi nơi sóng khói tĩnh mịch.
- ▲ Ngươi chẳng thấy nước sông Hoàng-Hà trên giời xuống, chẩy ra bể không trở lại. —
- ▲ Chợ trước cửa náo-nhiệt. Sách có chữ: « Thần môn như thị » nghĩa là cửa nhà ta như chợ. —
- ▲ Giăng lên, chơi nơi rừng. Sách có chữ: « Nguyệt minh lâm hạ mỹ nhân lai »; bên rừng giăng tỏ mỹ nhân lại.
- ▲ Chỗ đất ngày nay ta ngồi —
- ▲ Từng có người ngày xưa ngồi trước ta Hai câu này lấy trong Tây-Xuơng-Ký.
- ▲ Muôn sáo êm-đềm đêm vắng ngắt,
- ▲ Một vừng trong mát bóng giăng thâu.
- ▲ Đầy viện lý đào nhường có chủ. —
- ▲ Trăm thức hoa cỏ chẳng thua ai
- ▲ Ngoài mặt chẳng cần đẹp như ngọc. —
- ▲ Trong lòng thường giữ như vàng thau. —
- ▲ Khói nước man-mát cảm hạn vô cùng —
- ▲ Rồng cá lẳng-lặng ai là người tri-âm.
- ▲ Người giai nhân không cần đẹp như ngọc —
- ▲ Mai nở trước hạnh cười hạnh muộn. —
- ▲ Hạnh nở sau mai chê mai già.
- ▲ Quan Thừa-Tướng tiếng nhớn dủ trong giời đất. —
- ▲ Sinh-Từ còn mãi với nước non này.
- ▲ Giăng gác sườn non thơ nửa bức.
- ▲ Non ló gương nga rượu nghìn bầu.
- ▲ Người đi để mối tình với giăng sông Tô.
- ▲ Khách về từng trông ngóng mây sông Nhị