Luật sửa đổi bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1988

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm


Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 4-7-1981.

Chương I: Những qui định chung[sửa]

Điều 1[sửa]

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình.

Điều 2[sửa]

Trong phạm vi chức năng của mình, các Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Điều 3[sửa]

Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những công tác dưới đây:

1/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân;

2/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra, của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm.

3/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

4/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

5/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo.

6/ Điều tra tội phạm trong những trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự.

7/ Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự khi xét thấy cần thiết.

Điều 4[sửa]

Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, các Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm cùng các cơ quan Công an, Thanh tra, Tư pháp, Toà án, các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội tích cực đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các việc làm vi phạm pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân phối hợp với các cơ quan và tổ chức nói trên trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; thống kê, nghiên cứu các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; đào tạo cán bộ pháp lý.

Điều 5[sửa]

1/ Các Viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào của Nhà nước ở địa phương.

2/ Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn.

Các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Hội đồng Nhà nước cử và bãi miễn, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

3/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước. Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền ra quyết định đình chỉ và buộc phải sửa chữa những hành vi vi phạm pháp luật có thể gây hậu quả nghiêm trọng

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước các dự án Luật, dự án pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi công tác kiểm sát.

Chương II: Công tác kiểm sát chung[sửa]

Điều 6[sửa]

Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân, nhằm bảo đảm cho các văn bản pháp quy, biện pháp và hành vi đó phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của Hội đồng bộ trưởng.

Điều 7[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát chung, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp và cấp dưới, các đơn vị cơ sở trực thuộc cấp trên đóng tại địa phương:

A) Cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân các văn bản pháp quy và tài liệu khác cần thiết cho việc xác định việc làm vi phạm pháp luật;

B) Thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân biết các việc làm xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân đã xẩy ra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và kết quả việc xử lý những việc làm đó;

C) Kiểm tra việc làm vi phạm pháp luật của đơn vị cấp dưới và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân biết;

D) Cử chuyên viên để làm rõ các vấn đề cần thiết thuộc phạm vi trách nhiệm của mình;

2/ Yêu cầu cơ quan Thanh tra cùng cấp thanh tra việc làm vi phạm pháp luật và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân biết;

3/ Yêu cầu nhân viên Nhà nước, quân nhân và công dân trả lời về việc làm vi phạm pháp luật có liên quan đến họ;

4/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói ở điểm 1 điều này trong việc áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý hành chính, giải quyết khiếu nại và tố cáo của nhân dân, khi thấy có vi phạm pháp luật; triệu tập hoặc tham dự hội nghị bàn về những việc làm vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó khi thấy cần thiết;

5/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, tổ chức và đơn vị nói ở điểm 1 điều này, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ các văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật, loại trừ những nguyên nhân gây ra các việc làm vi phạm pháp luật, xử lý người chịu trách nhiệm về những việc làm đó. Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố về hình sự hoặc dân sự và áp dụng các biện pháp thích đáng để bảo đảm việc bồi thường cho người bị thiệt hại do việc làm vi phạm pháp luật gây ra.

Điều 8[sửa]

Đối với các yêu cầu nói trong các điểm 1 ,2 ,3 Điều 7, cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc người hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát nhân dân.

Đối với kiến nghị, kháng nghị nói trong điểm 5 Điều 7, cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị. Nếu đồng ý thì nói rõ những việc đã làm, đang làm hoặc sẽ làm để thực hiện yêu cầu nêu trong kiến nghị, kháng nghị. Nếu không đồng ý thì nói rõ lý do.

Trong trường hợp một cơ quan cấp trên nhận được kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với cơ quan cấp dưới của mình thì thời hạn trả lời là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị.

Chương III: Công tác kiểm sát điều tra[sửa]

Điều 9[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, quyết định việc truy tố, các Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 141 và Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chương IV: Công tác kiển sát xét xử[sửa]

Điều 12[sửa]

Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án, nhằm bảo đảm việc xét xử của các Toà án nhân dân đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.

Điều 13[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền:

2/ Tham gia tố tụng tại phiên toà của Toà án nhân dân cùng cấp; trong phiên toà hình sự, kiểm sát viên đọc cáo trạng và luận tội;

3/ Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử;

4/ Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật;

5/ Kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quy định tại Điều 244 và Điều 263 Bộ luật tố tụng hình sự;

6/ Khi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật hoặc theo thủ tục tái thẩm khi thấy có tình tiết mới.

Điều 13a[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử dân sự, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Kiểm sát việc xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và lao động;

2/ Khởi tố những vụ án dân sự khi Viện trưởng xét thấy cần thiết;

3/ Tiến hành kiểm sát việc lập hồ sơ, tự mình hoặc yêu cầu Toà án trưng cầu giám định, kiểm tra xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;

4/ Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới;

5/ Kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật hoặc theo thủ tục tái thẩm khi thấy có tình tiết mới.

Trong mọi trường hợp, bản kháng nghị phải được gửi cho các bên đương sự và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị.

Điều 13b[sửa]

Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án và quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình và lao động:

A) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

B) Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm;

C) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Những người kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị.

Điều 14[sửa]

1/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cáo có quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng thẩm phán và Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bàn về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử.

Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng thẩm phán hoặc Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì báo cáo lên Hội đồng Nhà nước xét và quyết định.

2/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có quyền tham dự các cuộc họp của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cùng cấp bàn về việc áp dụng pháp luật trong công tác xét xử.

3/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Hội đồng Nhà nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị án xin ân giảm án tử hình.

Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương không nhất trí với nghị quyết của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cùng cấp thì báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Chương V: Công tác kiểm sát chấp hành án[sửa]

Điều 15[sửa]

Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm các bản án và quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời.

Điều 16[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Yêu cầu cơ quan và nhân viên thi hành án:

A) Tự kiểm tra việc thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;

B) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án;

C) Thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân chưa được thi hành.

2/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan và nhân viên hữu quan trong việc thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, nhân viên đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc thi hành án.

3/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, nhân viên hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; xử lý kỷ luật người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó.

Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 17[sửa]

Các cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu nói ở điểm 1 Điều 16 trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Đối với các kiến nghị, kháng nghị nói ở điểm 3 Điều 16, cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, kháng nghị.

Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát nhân dân.

Nếu không nhất trí thì phải báo cho Viện kiểm sát nhân dân biết rõ lý do.

Chương VI: Công tác kiểm sát giam, giữ cải tạo[sửa]

Điều 18[sửa]

Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong các việc giam, giữ và cải tạo, nhằm bảo đảm:

1/ Các việc giam, giữ và cải tạo theo đúng thủ tục pháp luật và có căn cứ;

2/ Các chế độ giam, giữ và cải tạo được chấp hành nghiêm chỉnh;

3/ Tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền khác của đương sự không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.

Điều 19[sửa]

Khi thực hiện công tác kiểm sát giam, giữ và cải tạo, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Thường kỳ và bất thường kiểm sát tại chỗ các nơi giam, giữ và cải tạo;

2/ Xem xét các sổ sách, hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dưới về việc giam, giữ và cải tạo;

3/ Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của các đương sự; trực tiếp lấy lời khai báo của họ;

4/ Yêu cầu cơ quan cùng cấp quản lý các nơi giam, giữ, cải tạo kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;

5/ Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm trả lời về văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;

6/ Quyết định việc trả tự do cho người bị giam, giữ và cải tạo không có căn cứ và trái pháp luật;

7/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ các văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật và xử lý người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật. Trong trường hợp nhân viên làm công tác giam, giữ và cải tạo phạm tội thì truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 20[sửa]

Các cơ quan và nhân viên hữu quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu nói ở các điểm 4, 5 Điều 19 và trả lời trong thời hạn chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân trong thời hạn hai mươi bốn giờ đơn từ khiếu nại hoặc tố cáo của người bị giam, giữ, cải tạo.

Đối với các quyết định, kiến nghị, kháng nghị nói trong các điểm 6, 7 Điều 19, cơ quan hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, kiến nghị, kháng nghị. Trong trường hợp đặc biệt cần có thời hạn dài hơn thì phải được sự đồng ý của Viện kiểm sát nhân dân. Đối với các quyết định ghi tại điểm 6, Điều 19 Luật này, trong trường hợp không nhất trí thì cơ quan hoặc người có trách nhiệm vẫn phải chấp hành ngay, nhưng có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn hai mươi ngày, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xét và giải quyết khiếu nại.

Nếu không nhất trí với quyết định, kiến nghị, kháng nghị đó thì cơ quan và nhân viên hữu quan phải nói rõ lý do và có quyền yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân trên một cấp xét lại. Viện kiểm sát nhân dân phải xét và quyết định trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Chương VII: Tổ chức cán bộ của viện kiểm sát nhân dân[sửa]

Điều 21[sửa]

1/ Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:

  • Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;
  • Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
  • Các Viện kiểm sát quân sự.

2/ Tổ chức của Viện kiểm sát quân sự các cấp do Hội đồng Nhà nước quy định.

Điều 22[sửa]

1/ Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng thứ nhất, các Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên và các điều tra viên.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng lãnh đạo.

Các Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ.

Phó Viện trưởng thứ nhất thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt.

2/ Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Uỷ ban kiểm sát gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng chỉ định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát, các dự thảo báo cáo của Viện trưởng trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các dự án luật, dự án pháp lệnh và các vấn đề quan trọng khác mà Viện trưởng thấy cần thiết.

Trong các cuộc họp của Uỷ ban kiểm sát, Viện trưởng kết luận và quyết định cuối cùng. Trong trường hợp Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện quyết định của mình, đồng thời báo cáo lên Hội đồng Nhà nước.

3/ Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng và các trường đào tạo cán bộ về nghiệp vụ kiểm sát.

Điều 23[sửa]

1/ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng thứ nhất, các Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên và các điều tra viên.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương do Viện trưởng lãnh đạo.

Các Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ. Phó Viện trưởng thứ nhất thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt.

2/ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có Uỷ ban kiểm sát gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.

Uỷ ban kiểm sát thảo luận việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, các chỉ thị, thông tư và các quyết định quan trọng khác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các dự thảo báo cáo quan trọng của Viện trưởng lên viện kiểm sát nhân dân tối cao và những vấn đề khác mà Viện trưởng thấy cần thiết.

Trong các cuộc họp của Uỷ ban kiểm sát, Viện trưởng kết luận và quyết định cuối cùng. Khi Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện quyết định của mình, đồng thời báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

3/ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có các Phòng và Văn phòng giúp việc.

Điều 24[sửa]

1/ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Viện trưởng, Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên.

Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Viện trưởng lãnh đạo.

Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ và thay thế Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt .

2/ Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có các bộ phận công tác do Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên phụ trách, theo sự phân công của Viện trưởng.

Điều 25[sửa]

1/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất lãnh đạo hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.

2/ Căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ:

A) Đề ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát và xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân về mọi mặt;

B) Ra các quyết định, chỉ thị, thông tư, điều lệ, quy chế, chế độ công tác có tính chất bắt buộc đối với tất cả các Viện kiểm sát nhân dân;

C) Chỉ đạo và kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

D) Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

Đ) Quyết định bổ nhiệm, bãi miễn các chức vụ trong Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các Viện kiểm sát quân sự, trừ các chức vụ Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

E) Quyết định bộ máy làm việc và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

G) Chỉ đạo các việc xây dựng dự án luật, dự án pháp lệnh liên quan đến ngành Kiểm sát; tổng kết công tác kiểm sát; phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong công tác phòng ngừa và chống các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; tuyên truyền, giáo dục pháp luật, xây dựng pháp luật; thống kê, nghiên cứu các tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật; đào tạo cán bộ pháp lý.

Điều 26[sửa]

1/ Ngạch kiểm sát viên gồm có kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp.

2/ Các kiểm sát viên làm nhiệm vụ của mình theo sự phân công và uỷ nhiệm của Viện trưởng, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và sự phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân.

3/ Có thể được bổ nhiệm làm kiểm sát viên những công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất và năng lực chính trị, pháp lý theo tiêu chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

4/ Quy chế ngạch kiểm sát viên, chế độ giấy chứng minh, tiền lương và phụ cấp, trang phục của kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

Điều 27[sửa]

Các chế độ kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật của Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

Điều 28[sửa]

Tổng số biên chế của Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.

Chương VIII: Điều khoản cuối cùng[sửa]

Điều 29[sửa]

Luật này thay thế Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15-7-1960, Pháp lệnh ngày 16-4-1962 và Pháp lệnh ngày 15-1-1970 quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1988.


PD-icon.svg Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, Điều 21, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật". Coat of arms of Vietnam.svg