Điếu Phan Công Tòng

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

                  I
Thương ôi! người ngọc ở Bình-đông
Lớn nhỏ trong làng thảy mến trông.
Biết đạo khác bầy con mắt tục
Dạy dân nắm giữ tấm lòng công.
Đặng danh vừa rạng bề nhà-cửa,
Vì nghĩa riêng đền nợ núi-sông.
Một trận trải gan trời đất thấy,
So xưa nào thẹn tiếng anh-hùng.

                  II
Anh-hùng thà thác chẳng đầu Tây
Một giấc sa-trường phận cũng may.
Viên đạn nghịch-thần treo trước mắt,
Lưỡi gươm địch-khái nắm trong tay.
Đầu tang ba tháng trời riêng đội,
Lòng giận nghìn thu đất nổi dày.
Tiếc mới một sồng ra đặt trụm.
Cài xên, con rã, nghĩ thương thay!

                  III
Thương thay! tạo-vật khuấy người ta,
Năm đổi làm Tây, chính lại tà.
Trống nghĩa bảo-an theo sấm rạp.
Cờ thù công-tử guộng mây qua.
Én vào nhà khác toan nào kịp[2]
Hươu thác tay ai vọi hỡi xa![3]
Trong số nên hư từng trước mắt,
Người ôi! trời vậy tính sao ra.

                  IV
Sao ra nhảy-nhót giữa vòng danh,
Son đóng chưa khô ấn đốc-binh.
Đuốc gió nhẹ xao đường thủy-thạch[4]
Cỏ hoa ngùi đọng cửa trâm-anh,[5]
Trên giồng lửa cháy cờ tam sắc[6]
Dưới gảnh đèn lờ bản thất tinh.[7]
Dẫu khiến nghe can vùng đất hiểm,
Chờ trời nào đến tủi vong-linh![8]

                  V
Vong-linh sớm gặp buổi đời suy
Trăm nét cân-đo ít lỗi-nghì.
Bóng bọt hình-hài vừa lố thấy,
Ngút mây phú quý bỗng tan đi.
Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy,
Quan bảy tám ngày sướng ích chi.
E nỗi dạ-đài[9] quan lớn hỏi,
Cớ sao xếu-mếu cỏi Ba-tri.

                  VI
Ba-tri từ vắng tiếng hơi chàng,
Gió thảm mưa sầu khá xiết than.
Vường luống trông xuân hoa ủ-dột,
Ruộng riêng buồn chủ lúa khô-khan.
Bầy ma bất hạnh[10] duồng làm nghiệt,
Lũ chó vô cô[11] cũng mắc nàn.
Người ấy vì ai ra cớ ấy,
Chạnh lòng trăm họ khóc quan Phan.

                  VII
Quan Phan thác trọn chữ trung-thần,
Ôm tiếng như người cũng nghĩa dân.
Làng đế đành theo ông hữu đạo.[12]
Cõi phàm hổ ngó lũ vô quân[13]
Lòng son xin có hai vần tạc
Giồng Gạch thà không một tấm thân.
Ai khiến cuộc hòa ra cuộc chiến,
Người qua An-lái luống bâng-khuâng.

                  VIII
Bâng-khuâng ngày xế cả than trời,
Ai đổ cho người gánh nạn đời.
Nếm mật Cối-kê[14] đâu chẳng giận,
Cắp dùi Bác-lãng[15] há rằng chơi.
Một sòng cung-kiếm rồi vay trả.
Sáu ải[16] tang-thương mặt đổi dời.
Thôi! mất cũng cam, còn cũng khổ,
Nay Kim mai Tống[17] thẹn làm người.

                  IX
Làm người trung-nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn-khôn[18] tiếng chẳng mòn.
Cơm-áo đền bồi ơn đất nước.
Râu-mày giữ vẹn phận tôi con.
Tinh-thần hai chữ phao sương tuyết
Khí-phách nghìn thu rỡ núi non.
Gẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,[19].
Lòng đây tưởng đó mất như còn.

                  X
Như còn chẳng gọi thế rằng cô.
Cái chuyện hoa-vi trước họa-đồ.
Sở hỡi trót ghi cừu họ Ngũ[20]
Hán đâu khỏi trả hận thằng Nô[21]
Vàng tơ sử Mã[22] giồi đường sứ,
Búa vớt kinh lân[23] lấp dấu hồ.
Ngày khác xa-thư[24] về một mối,
Danh thơm ngươi tới cõi hoàng-đô[25].

   




Chú thích

  1. Người làng Bình-đông, quận Ba-tri, tỉnh Bến-tre, tử trận năm mậu-thìn 1868 ở Giồng Gạch, cách chợ Ba-tri 2 cây số nghìn.
  2. Lấy ý ở câu thơ của Lưu vũ Tích đời Đường: "Cựu thì Vương, Tạ đường tiền yến. Phi nhập tầm-thường bách tính gia". Nghĩa: Thần xưa Vương, Tạ năm nào; Ngậm-ngùi chiếc én bay vào nhà dân. Ý nói ngậm-ngùi cuộc đổi-thay.
  3. Lấy lý ở câu: "Nhà Tần mất con hươu, thiên-hạ đua nhau tranh". Con hươu chỉ về non nước.
  4. Thủy-thành-thạch: Một thứ đá bởi hóa thành thạch bị nước dội nát ra tụ lại một chỗ lâu ngày mà thành ra. Ý nói chốn êm-ái.
  5. Trâm anh: Trâm cài mũ buộc. Nhà quan sang.
  6. Tam sắc: Ba màu. Cờ Pháp.
  7. Thất tinh bản: Tấm ván đục bảy vì sao là ngôi sao Bắc-đẩu, lót trong săng người chết.
  8. Vong-linh: Linh-hồn người chết.
  9. Dạ-đài: Đài là đêm. Chỉ về cõi âm, chỗ người chết ở.
  10. Bất hạnh: chẳng may.
  11. Tức vô-cố: không có cớ gì.
  12. Hữu đạo: có đạo đức.
  13. Vô quân: dọc-ngang chẳng kể trên đầu có ai.
  14. Vua Việt Câu-Tiễn bị vua Ngô phù Sai đánh lấy nước, quản thúc ở Cối-kê, hằng nếm mật đắng để tự nhủ chẳng được quên thù.
  15. Trương Lương người nước Hàn, đau lòng vì bị nước Tần đánh lấy nước mình, bèn mướn người lực-sĩ cắp dùi đồng rình đập vua Tần Thủy Hoàng ở bãi Bác-lãng. Vua Tần may-mắn thoát khỏi. Trương uất ức bỏ nước ra đi sau giúp nhà Hán đánh dứt được nhà Tần, trả thù cho nước cũ.
  16. Đây nói về sáu tỉnh Nam-Việt.
  17. Nước Kim thường xâm-phạm nhà Tống, hai bên cừu địch. Kẻ nay Kim mai Tống, là nói con người phản-bội, quên đất tổ.
  18. Theo như Dịch-học, càn: tượng trời, khôn: tượng đất. Càn-khôn nói về khắp vũ-trụ.
  19. Việt điểu sào nam chi. Hồ mã tư bắc phang: Chim Việt làm tổ cành Nam. Ngựa hồ động lòng nhớ gió Bắc. Nước Việt đem cống Trung-quốc một con trỉ trắng, con trỉ ấy cứ lựa cành Nam mà đỗ, tỏ dấu nhớ quê hương - Nước Hồ đem cống Trung-quốc một con ngựa, ngựa ấy vẫn quay đầu về hướng Bắc.
  20. Vua Bình-vương nước Sở giết Ngũ Xa. Con Ngũ Xa là Ngũ Viên tự Tử Tư, quyết chí báo thù. Sau, Ngũ Viên giúp Ngô đem binh Ngô về đánh Sở.
  21. Hung-nô thường xâm-phạm nhà Hán, dân Hán đều oán giận.
  22. Tư Mã Thiên soạn bộ "Sử ký" nổi tiếng.
  23. Khổng-tử soạn Xuân-thu, chấm dứt tứ sau khi nghe dân-chúng bắn què một con lân. Người sau bèn gọi kinh Xuân-thu là kinh lân.
  24. Xa thư: xe và sách. Do cầu sách Trung-dung: "Nay ở gầm trời, xe chung đường, sách chung chữ". Ý nói thiên-hạ thông đồng.
  25. Hoàng-đô: đồ vua. Triều-đình.