Bài trừ cái nạn Phan Khôi ở Nam Kỳ

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Muốn bài trừ cái nạn Phan Khôi ở trong Nam, cần phải giết[1] bỏ ông Phan Khôi ở trên đàn ngôn luận. Trước khi muốn giết ông Khôi ở trên đàn ngôn luận, lòng tôi cảm tưởng bồi hồi, lại nhớ đến khi xưa trong hồi xem tập văn Ẩm Băng, thấy truyện Viên Sùng Hoán giết Mao Văn Long[2] vậy.

Nghĩ như ông Phan Khôi là người có tài học trong buổi Hán học đã tàn này (xem lại bài nói về ông Phan Khôi trong An Nam tạp chí số 26), nếu trên đàn ngôn luận giết bỏ hẳn ông đi, thực rất đáng là thương tiếc. Lại biết đâu rằng không vì một chỗ đó mà sau này thành ra tôi có mang phần tội lỗi với quốc dân. Cho nên nghĩ đến truyện Viên Sùng Hoán giết Mao Văn Long mà càng thêm cảm tưởng bồi hồi vậy. – Tôi đã nghĩ biết đến như thế, lại nghĩ trái lại rằng: như ông Khôi thật là người có tài, mà rộng xem trong xã hội ta hiện nay, ai là người có đủ sức (chữ sức đây gồm cả hai tính chất văn học và tư bản) để dùng được cái tài của ông Khôi, thực là khó có. Nếu tài không đắc dụng mà chuyển làm tai nạn, thời chẳng giết để chi? Đó là nghĩ về phần công chúng.

Tôi lại riêng tự nghĩ: phàm người ta muốn làm một việc gì, chỉ cần nên biết rõ việc ấy có quả là nên làm hay không; còn như an nguy lợi hại về phần riêng một mình, sau rồi có xảy ra như sao, nhất thiết không cần nên tính đến. Theo các sự nghĩ như trên đó, xin xét về tội án ông Phan Khôi.

Cứ trong tội án ông Khôi viết bài ở Phụ nữ tân văn, phần nhiều ở về phương diện làm hại phụ nữ lưu; nhưng nay cẵng[3] nói về một khoản can trọng hơn, là bài "Cái cười của con Rồng cháu Tiên", đăng trong Phụ nữ tân văn số 84, ra ngày 28 Mars 1931. Nay xin hãy cứ một bài ấy, tra xét, nghĩ xử.

Trong Phụ nữ tân văn đăng bài ấy của ông Khôi, dưới cái đầu đề in chữ to là "Cái cười của con Rồng cháu Tiên", lại có một giòng cũng là đầu đề mà in bằng thứ chữ nhỏ hơn, là: "Một cái cảm tưởng trong khi đọc "Cay đắng mùi đời". Cứ như hai dòng chữ đầu đề ấy nhận ra, cái gian tình của ông Khôi đã phơi trắng ra ở mặt giấy. Đó là ông muốn cổ động cho cuốn tiểu thuyết "Cay đắng mùi đời" ấy, mà ông mượn bốn chữ "con Rồng cháu Tiên", đặt làm đại đề mục, khiến cho các độc giả phải để mắt để ý mà xem tới trong bài, mà đọc tới những lời cổ động của ông phục tàng khôn khéo ở trong văn. Một sự lợi dụng đó đã hiển nhiên ở hai giòng chữ đầu đề, bốn chữ "cay đắng mùi đời" đi theo với bốn chữ "con Rồng cháu Tiên", ông Khôi dẫu muốn cãi thế nào, cũng không thể cãi gỡ được.

Nguyên một sự viết bài trong báo mà lẩn lời quảng cáo ở trong, cái lỗi chỉ là lạm dụng công quyền của báo quán mà mưu đồ sự tiện lợi về phần riêng. Cái lỗi ấy, chỉ trong đối với chủ nhân báo quán, ngoài đối với các bạn độc giả mua năm, mua lẻ của tờ báo ấy, mà có lỗi về sự man trá theo tính cách tiểu nhân. Nếu về phần người viết thật khôn ngoan, về phần người xem không xét tới, thời chỉ như một sự ăn cắp rất chơn chu, không thành câu chuyện. Nếu về phần người viết kém khôn ngoan, về phần người xem có xét tới mà bỏ qua làm một sự buồn cười, không cần chê trách, thời cũng không thành câu chuyện. Hoặc về phần người viết không khôn ngoan, về phần người xem xét ra tới, ông chủ nhân trong báo quán quở trách người viết bài qua loa, độc giả của tờ báo viết bài để chỉ trích, như thế thời dù có có câu chuyện, mà câu chuyện cũng rất là nhỏ nhen. Những câu chuyện như đó, ai muốn biết thời biết, ai muốn nghe thời nghe, không quan hệ đến sự cần biết cần nghe của công chúng. Vậy thời một cái lỗi nhỏ nhen ấy, tuy rằng tôi có xét ra, song xin giao giả về cho Phụ nữ tân văn. Một bên, phần người được xét xử, là hai vợ chồng ông Nguyễn Đức Nhuận và các bạn độc giả của Phụ nữ tân văn; phần người ấy rộng lượng hay hẹp lượng thế nào, tùy ý. Một bên, phần người bị xét xử, là M. Phan Khôi, có phục tình hay không phục tình thế nào, mặc ý. Tóm lại, một cái trường hợp đó không cần đem ra trước tòa án công luận của quốc dân trong ba kỳ. – Cần đem ra trước tòa án công luận của quốc dân trong ba kỳ, là: cái tội ông Phan Khôi dám lạm dụng bốn chữ "con Rồng cháu Tiên" làm quảng cáo cho cuốn tiểu thuyết kia, mà lại đem những giọng mỉa mai, lời cợt riễu, để đối với bốn chữ ấy. – Nay tôi xin, trước mặt quốc dân, đỡ lời công chúng, quyền làm sự thẩm án thuộc về tòa Sơ cấp, mong ai nấy cùng nghe:

Nguyên bốn chữ "con Rồng cháu Tiên" trong quốc văn thường dùng ngày nay, là gốc ở chữ Hán trong Quốc sử. Lời vua Lạc Long bảo bà vợ là bà Ẩu Cơ rằng: 我 是 龍 類, 爾 是 仙 類. "Ngã thị long loại, nhĩ thị tiên loại = Ta là loài rồng, mình là loài tiên". Đó là chữ chính trong Quốc sử. Về sau, gần đây, những người làm sử, làm sách, làm văn bài bằng chữ Hán, mới thuật ở hai chữ  龍 仙 đó mà có như câu:  龍  父 仙 母 之 子 孫. Long phụ tiên mẫu chi tử tôn". Ấy bốn chữ "con Rồng cháu Tiên" lại là do ở câu chữ Hán ấy dịch ra, mà nói lọn như vậy. Nay cứ bốn chữ Quốc văn ấy mà làm sự giảng giải, thời có hai nghĩa:

Một là nói về nghĩa hiện tại, thời bốn chữ đó trỏ khắp vào mấy mươi triệu đồng bào giai gái, cùng là con cháu nhà Lạc Long.

Hai là nhận về nghĩa gốc tích, thời một chữ "con" đó, tức là các cụ tổ chúng ta ngày xưa, cùng hàng anh em với vua Hùng Vương mà chính vua Hùng Vương cũng là một vị người trong chữ "con" đó. Vì rằng ở sử cũ, vua Lạc Long cùng bà Ẩu Cơ chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo bố ở Nam; tôn người con trưởng lên làm Hùng Vương để nối ngôi trị vì.

Cứ nhận kỹ như đó, thời biết bốn chữ "con Rồng cháu Tiên" của dân tộc Việt Nam, thực là tôn quý, không có vật gì ở trên nữa. Nay hãy xem như có một hoàng phái nào, đặt ra bốn chữ  金 枝 玉 葉  "kim chi ngọc diệp" để tự tôn cái giòng giống nhà mình; thời bốn chữ ấy đối với giòng giống nhà kia, hẳn cũng rất là tôn quý. Huống chi chữ gốc ở Quốc sử mà chùm cả dân tộc, thời tôn quý biết là nhường bao! Cho nên như bốn chữ "con Rồng cháu Tiên", người An Nam ai có muốn nói đến, hoặc viết ra câu văn, câu thơ, chỉ nên dùng về bên nghĩa tốt, như tự tôn, tự ái, tự quý, tự trọng, ngợi khen, chúc tụng, âu yếm, yêu đang, như thế mới là hợp dụng. Nếu có kẻ nào trong Quốc dân dám đem bốn chữ đó dùng làm  cái bia để mỉa mai, để chế riễu, tức là kẻ đó có can tội với toàn thể Quốc dân, với Thủy tổ của nước vậy. Như kẻ đó, kết vào tội "đại bất kính" 大 不 敬 thực rất là không oan!

Cứ việc cũ ở Á Đông, ở trong sử Trung Quốc, về đời vua Văn đế nhà Hán, quan Thừa tướng là Thân Đồ Gia 申 屠 嘉  quở mắng Đặng Thông 鄧 通 (một kẻ bầy tôi yêu riêng của vua Văn đế) rằng: 通 小 臣 戲 殿 上, 大 不 敬, 當 斬. Thông, tiểu thần, hý điện thượng. Đại bất kính! Đương trảm. − Nghĩa rằng: "Thông, mày là một kẻ bầy tôi nhỏ mọn, dám đùa bỡn ở trên chỗ cạnh vua. Cả là bất kính! tội nên chém!"

Ấy chữ "đại bất kính", nghĩa như thế, tội đáng là như thế.

Đoạn gần cuối ở trong bài của ông Phan Khôi có nói rằng:

"Có một phần đông người Pháp ở đây, ta hằng ngày cũng có thể chiêm nghiệm được cả một dân tộc Pháp. Ví dụ như gặp khi giời mưa đường trơn, có người nào đó, bất kỳ đi vô ý mà trợt té, bấy giờ có năm ba người Pháp đứng đó, họ có cười hay không? Tôi và có nhiều người như tôi nữa, dám chắc rằng họ chẳng những không cười, mà lại còn chạy lại để đỡ người bị té ấy lên nữa. Còn như con Rồng cháu Tiên ta, ai không biết, chớ tôi cầm chắc rằng trước khi chạy lại đỡ, họ phải cười một chặp cho no nê đã".

Như lời trong đoạn đó, ông Khôi khen người Pháp, sao chẳng rất là phải. Còn như ông mai mỉa con Rồng cháu Tiên về cái tội cười đó, thời tôi dẫu không bênh được hết, cũng có thể nói lại được ít nhiều. Quốc dân ta trình độ chửa văn minh, thời hạng người hạ lưu, cái thói xấu biết kể sao cho xiết. Sự cười đó chưa lấy gì làm quá lắm, nhất là như một sự "đi tiểu" của một phần người đàn bà Hà Nội, những người đầu đội thúng, vai mang gánh, hoặc đi chân tay không, bất cứ ở tại đường phố nào, nếu không thấy ông Phú-lít[4] ở bên, thời là vén quần đi tiểu luôn, coi như chỗ bờ dậu của nhà mình vậy. Một phần người như thế thực không ít; song cũng có phần nhiều người khác như các hạng nữ giáo viên, nữ học sinh sa-dờ-phăm (sage femme), bà Tham, bà Phán, các con gái các nhà buôn bán ở thành phố, thời cái sự đi tiểu ở đường phố như thế, thực là ít thay! Suy một sự "đi tiểu" mà nhận sang sự "cười", thời những người có cái thói cười xấu như ông Khôi đã nói, chẳng qua là một hạng người hạ lưu, tư cách cũng chính như những người đàn bà đầu đội vai mang mà đi ở đường phố Hà Nội vậy. Nếu do một sự cười đó có thể đem bốn chữ "con Rồng cháu Tiên" mà diếc móc, thời một sự đi tiểu của một phần người đàn bà Hà Nội, ông Khôi khó gì không mỉa mai đến cả nòi giống được ru? – Đến như sự đi tiểu của đàn bà nước Pháp thời thật tôi chưa từng được trông thấy một người đàn bà Pháp đi tiểu ở đâu bao giờ. Ông Khôi đã biết khen người Pháp về sự không cười sằng, thì như sự không đi tiểu sằng của các bà đầm kia, ông tú Khôi lại càng nên hương hoa mà đính chúc lắm vậy!

Một câu thật cuối ở trong bài của ông Khôi, tức là đoạn tiếp luôn với đoạn trên, có nói rằng:

"Nội một cái biểu hiệu để tỏ ra người ta khác với vật mà mình cũng đã không biết dùng bằng họ rồi".

Ngẫm kỹ cái ý nói của câu ấy, tức là ông Khôi vói lên chữ "con Rồng cháu Tiên" ở đoạn trên, mà cho là không khác giống vật vậy.

Dân tộc Việt Nam ta, kể từ sau đời Hùng Vương, cũng đã có nhiều phen lừng lẫy, như những hồi Lý Thường Kiệt đánh Tống, Trần Hưng Đạo phá Nguyên, Lê Thái Tổ bình Ngô, Nguyễn Quang Trung trừ Thanh. Đương những lúc như ấy thời trong quốc dân ta, "con Rồng cháu Tiên", chắc không có ai kể xấu nhau về tiếng nói câu cười. Bụt nhà đến lúc không thiêng, thời bệ lở tòa nghiêng, thằng nhỏ chăn trâu mới dám lấy gai mà chọc mắt. Hai nhăm triệu lòng người chưa chết cả, nghe giọng lưỡi của Phan Khôi như vậy; vui, buồn, cười, khóc nên nhường sao?

Cứ cái tội án Phan Khôi do ở bài "Cái cười của con Rồng cháu Tiên", về phần tôi sơ thẩm như thế, nghĩ nên kết theo lời Thân Đồ Gia bảo Đặng Thông: "Đại bất kính! Đương trảm!" Duy trong Luật lại có điều "trảm, giam, hậu". 斬 監 候 nghĩa là: kết tội chém, nhưng còn giam đó, để đời quyết. Vậy cái tội Phan Khôi, xin nghĩ kết Trảm, giam, hậu. Một là: để đợi quyết. Hai là: để trong quốc dân ta, ai có vì Phan Khôi thương tiếc, xin cứ vì Phan Khôi thân oan. Phan Khôi có tự lấy mình làm oan, xin cứ hết lời thân oan.

Le Directeur de la Revue d' Annam
NGUYỄN KHẮC HIẾU

Cùng bài "Tống Nho với phụ nữ"

Trong Phụ nữ tân văn số 95, ra ngày 13 Août 1931, ông Phan Khôi có viết bài "Tống nho với phụ nữ", yết đại ý ở dưới đề mục rằng:

"Cái luật cấm cải giá là bất công, vô đạo, cướp mất quyền lợi đàn bà mà không bổ ích gì cho phong hóa, nên phế trừ đi là phải".

Theo ý tôi, thời: Cái đại ý của bài luận lý ấy, thực là bất công, vô đạo, làm hại phong hóa mà không có bổ ích gì cho đàn bà, nên phế trừ đi là phải.

Xin cứ những lời tầm bậy trong bài ấy, chỉ trích và thuyết minh ra, để phụ nữ trong Nam và chư vị độc giả cùng nghe, rồi sẽ kết tội án Phan Khôi ở cuối.

Ngay trong lời yết đại ý ở dưới đề mục của bài ấy, mở đầu có năm chữ "cái luật cấm cải giá", thực rất là tầm bậy! Sự tầm bậy đó, ở chữ "luật" và chữ "cấm". − Nói về chữ "luật", tự ông Khôi cũng đã biết là nói bướng, cho nên ông có đỡ lời ở khoảng cuối cột thứ sáu trong bài ấy rằng:

"Sự cấm cải giá đó, tôi kêu bằng "luật", không phải là luật thiệt đâu. Nó không phải là luật trong pháp luật, mà là luật trong luân lý".

Đã biết không phải là luật, thời sao được dùng chữ đó để nói bướng? Xưa nay trong Hán văn, chỉ thường thấy có những chữ "pháp luật"  法 律, "hình luật"  刑  律  chớ có chữ "luân lý luật"  倫 理 律  đặt đi với nhau bao giờ? Ông Khôi biết là nói bướng mà cứ nói, cho nên bảo là lời tầm bậy, thực rất là không oan!

Chữ "luật" đã tầm bậy, thời chữ "cấm" theo ở đó mà ra. Phàm những sự gì do pháp luật cấm chỉ không cho ai được như thế, nếu có ai dám như thế thời phải bắt làm tội, như thế mới dùng đến chữ "cấm"  禁. Cho nên như ở các đầu đường ngõ hẻm trong thành phố, thường có yết chữ:  禁 不 得 放 穢 ! "Cấm bất đắc phóng uế". Vậy thời nếu có ai phóng uế ở chỗ đó, ông Phú-lít sẽ bắt làm tội. Như thế mới rõ là "cấm". Còn như đối với sự cải giá của đàn bà, xưa nay, dù vua chúa, dù thánh hiền, chỉ có khuyên người ta giữ được đạo trinh tiết là đáng quý đáng chuộng; chớ chưa từng có điều luật, kinh điển nào dám nói rõ: "cấm bất đắc cải giá" bao giờ. Đối với sự ấy mà nói rõ chữ "cấm", tôi chỉ nghe thấy, trong khi tôi còn nhỏ, ở những đám hát chèo ở thôn quê xứ Bắc, vai hề ra hát, có câu rằng:

"Chỉ vua ra cấm con gái hóa không cho đi lấy chồng.
Trống cơm ai vỗ nên "bông!"
Một đàn con nít sang sông đi tìm…"

Đến nay lại coi thấy ở trong bài luận thuyết của ông Phan Khôi là thứ hai. Lấy cái học thức chú hề chèo, mà viết bài luận lý, đăng lên to lớn ở trong tờ Tân văn. Ôi, nghĩ cũng đáng buồn cho báo giới nước ta lúc này, mà riêng tiếc cho tờ Tân văn son phấn kia vậy!

"Cái luật cấm cải giá" mà ông Phan Khôi đã nói bậy ra đó, ông cốt để vu buộc vào cho Tống nho. Cho nên ở đầu bài của ông viết, đặt là "Tống nho với phụ nữ". Trong bài, nói về những người đàn bà xa chồng mà ở yên không đi lấy chồng khác, cùng những người đàn bà hóa chồng mà ở vậy không đi lấy chồng khác, ông Khôi cho là chịu cái ảnh hưởng của Tống nho phần thứ nhất. Những lời của ông rằng:

"… cái ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất là chịu của Tống nho, tức là cái luật cấm đàn bà cải giá".

"… phụ nữ ta vẫn còn sư thiệt thòi giống như vậy[5] bởi cái học thuyết của Tống nho".

Hai chữ "Tống nho" trong bài của ông, ý riêng trỏ vào phái Trình Tử, Chu Tử, mà phần nói về Trình Tử nhiều hơn. Lời ông Khôi rằng:

"Vậy mà đến Trình Hy[6] (sanh năm 1033) thời ông chủ trương một cách nghiêm khốc quá, ông cấm tiệt đàn bà không được cải giá, chẳng hề dung chế một chút nào".

Lời ông Khôi buộc lỗi Trình Tử như vậy, mà ông dẫn chứng ở trong một quyển sách chữ nho có nói:

又 問 : 人 或 居 孀 貧 窮 無 托 者, 可 再 嫁 否. 曰 : 只 是 後 世 怕 餓 死. 故 有 是 說 , 然 餓 死 事 極 小 , 失 節 事 極 大.

Ông Khôi dịch:

"Lại hỏi[7]: người đàn bà ở góa mà bần cùng không cậy nhờ ai được, thời có nên tái giá không?

"Đáp rằng[8]: chỉ có người đời sau (đối với đời xưa), sợ chết đói, mới có cái thuyết ấy. Song le, chết đói là sự rất nhỏ, còn thất tiết là sự rất lớn!"

Giở lên, theo những lời đã chỉ trích trong bài của ông Khôi, xin chia làm hai đoạn thuyết minh, cho thấy sự luận lý không chánh đáng của bài luận lý ấy.

Cứ nguyên văn một đoạn trong sách chữ Hán như trên, mà ông Khôi dịch nghĩa ra như thế, thực là đúng. Dịch nghĩa đã đúng, mà nhận nghĩa sao còn sai? Chỉ là ông Khôi cố ý buộc lỗi cho Trình Tử, cho nên lời luận lý thành ra khiên cưỡng mà không chánh đáng vậy. Nay thuyết minh:

Cứ như lời của kẻ hỏi Trình Tử đó, chỉ hỏi là "có nên tái giá không?" Thực cũng chưa từng có nói đến tiếng "được". Nên với được, hai chữ ấy khác nhau rất xa. Đến như Trình Tử đáp lại, ý nghiêm mà lời rất thư từ, không dám bảo ngay kẻ hỏi rằng không nên: chỉ đem hai sự đối nhau, phân trần khinh trọng, (chữ nhỏ đó, ý là khinh; chữ lớn đó, ý là trọng). Nên hay không nên, mặc người hỏi tự quyết định lấy. Ví như:

Có kẻ hỏi: Ở nhà thời nhịn đói, có nên đi xin mà ăn không?

Đáp rằng: nhịn đói là sự thường, đi xin mà ăn là sự quan trọng.

Vậy thời kẻ kia, nếu không nhịn được đói, cứ đi xin mà ăn; không nên hay nên, cũng mặc ý. Tự người giả lời câu hỏi đó, muốn bảo rằng không nên, còn không dám nói rõ, mà đâu có dám rằng cấm ai?

Nay ông Khôi đã dẫn dịch câu ấy như thế, mà buộc chặt cho Trình Tử rằng "Cấm tiệt đàn bà không được cải giá". Thực là vu hãm tiên hiền  誣  陷 先 賢  vậy!

Xét ra chỗ ông Khôi vu hãm tiên hiền như thế, thời biết những lời của ông nói, cho những người đàn bà xa chồng mà ở yên, cùng những người đàn bà hóa chồng mà ở vậy, cái ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất, là chịu của Tống nho, thực là không có căn cứ gì vậy. Nay lại xin cứ ở kinh sử, xét theo mấy câu ngôn luận, mấy sự hành vi của cổ nhân, cho thấy rõ những lời luân lý của ông Khôi, chỉ là tầm bậy. Xét về ngôn luận:

kinh Dịch, có câu rằng:   婦 人 貞 吉 從 一 而 終 也 "Phụ nhân trinh cát, tùng nhất nhi chung dã". Nghĩa là "Người đàn bà mà chính chuyên, ấy tốt: Theo một chồng cho trọn đời".

Ở sử Bắc, đời Chiến quốc, lời Vương Chúc:  烈 女 不 更 二 夫. "Liệt nữ bất canh nhị phu". Nghĩa là "Người con gái tiết liệt: không đổi hai đời chồng".

Ngạn ngữ của nước ta có câu: "Gái chính chuyên, lấy một chồng". Tức là do ở hai câu chữ nho kia thoát nghĩa sang vậy.

Xét về hành vi:

Ở kinh Xuân thu, truyện họ Tả: "Công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ, chạy nạn qua nước Địch, có lấy người vợ tên là Quý Ngỗi. Lúc Trùng Nhĩ lại bỏ Địch sắp chạy sang Tề, bảo Quý Ngỗi rằng: "Đợi tôi hai mươi nhăm (25) năm không giở lại thời rồi hay đi lấy chống". Quý Ngỗi nói: "Tôi nay đã hai mươi nhăm năm (tức là tuổi) lại như thế nữa mà mới lấy chồng, thời chỉ có chui vào quan tài! Nhưng mà xin đợi anh". Ấy là người đàn bà xa chồng mà đành lòng ở yên.

Ở kinh Thi, thơ Bách Chu:

汎 彼 柏 舟, 在 彼 中 河, 髧 彼 兩 髦, 實 維 我 儀, 之 死 矢 靡 它, 母 也 天 只, 不 諒 人 只.

"Phiếm bỉ bách chu, tại bỉ trung hà,
Khảm bỉ lưỡng mao, thực duy ngã nghi.
Chi tử thỉ mỹ tha.
Mẫu dã thiên chỉ, bất lượng nhân chỉ!

Dịch:

Lênh đênh kìa chiếc thuyền trôi!
Chiếc thuyền gỗ bách! ai ôi giữa giòng!
Trái đào buông xuống song song,
Thật là đôi lứa sánh cùng với ta.
Thân này đến chết ru mà,
Thề rằng chẳng có đậm đà cùng ai.
Mẹ ơi, mẹ thật như giời!
Sao mà chẳng lượng cho người thế ru?

Thơ này của nàng Cung Khương nước Vệ. Nàng hóa chồng sớm, bố mẹ muốn lại đem gả chồng khác, mà Nàng nhất định không nghe, cho nên làm ra thơ đây để tự thề cái chí mình.

Ấy là người đàn bà hóa chồng mà quyết lòng ở vậy.

Tóm lại những ngôn luận hành vi của cổ nhân như đó, đều ở về những đời Xuân thu Chiến quốc giở về trước, tức là ngang với nước ta trong khoảng đời Hùng Vương. Trình Tử, Chu Tử, các vị Tống nho sinh đời Nam Tống ở Trung Quốc, ngang với sử ta giữa đời nhà Lý giở về sau. Cứ vậy ngẫm ra, tự thấy rằng một đạo trinh tiết của đàn bà Á Đông, thực do thượng cổ truyền lai, gốc ở một chữ 貞 trinh trong kinh Dịch nẩy mầm ra, đời đời nối tiếp vun bồi, gây thành cái phong hóa tuyệt thanh quý trong nhân loại. Nay Phan Khôi dám cho những sự đó là đàn bà chịu sự thiệt thòi, mà lại quy cái ảnh hưởng trực tiếp là chịu của Tống nho. Thực là loạn ngôn hoặc chúng vậy!

TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

Cùng bài  "Tống Nho với phụ nữ"

Xem ở cột thứ bẩy trong bài ấy, tức là về đoạn đã gần cuối, ông Khôi nói:

"Tôi lấy làm lạ, cái kêu bằng cái "tiết" đó, không phải là tính trời sanh, thời sao lại đem nó để càn lên trên cái do tánh trời sanh? Tôi thì cứ giữ mực quê quê thiệt thiệt, căn cứ ở câu "thực sắc thiên tánh" của Mạnh Tử mà nói rằng: Hễ đàn ông chết vợ thì lấy vợ khác; đàn bà chết chồng thì lấy chồng khác".

Mấy lời trích dẫn ra trên đây, tức là chủ ý trong toàn bài của ông Khôi. Mấy câu nói về tánh trời sanh, còn vẫn là lời luận lý; đến hai câu sau từ dưới chữ  "nói rằng", mới là ông Khôi tỏ rõ đến thực ý của tự mình. Nay xin lại cứ theo một đoạn trích dẫn trong bài ấy như đó, đối với chư vị Độc giả thuyết minh.

Cùng mấy lời luận lý của ông Khôi.

Ngay từ cột thứ nhất của bài ấy, ông Khôi mới bắt đầu vào luận lý, nói đến hai việc ẩm thực và nam nữ là tánh trời sanh, ông dẫn câu "食 色 性 也 thực sắc tính giã" ở trong sách Mạnh Tử, chú ở chân trang, để làm chứng cứ. Cứ cái kiến giải và sự dẫn chứng của ông Khôi, theo như ý ông, sao không là phải. Song tiếc rằng: ông Khôi chỉ biết có hai việc ẩm thực và nam nữ là tánh trời sanh; mà ông không biết tính giời sinh của người ta không những chỉ là hai việc ẩm thực, nam nữ đó. Ông mang một cái cảm tưởng chú trọng ở "kiếm hột cơm, bỏ vô miệng"[9], phát ra làm những lời ngôn luận cố ôm nâng quyền lợi của đàn bà con gái, mà coi xem cái đạo làm người rất là dẻ dúng, không còn giá trị một chút chi. Chữ "tiết  節" thuộc về đạo đàn bà con gái, nếu chỉ đáng đem mà quăng đi, thời hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ của đàn ông con trai, cũng đều chỉ là những chữ dư thừa, còn cần chi giáo dục làm chi vậy. Trong Luận ngữ có câu  駟 不 及 舌  tứ bất cập thiệt: "ngựa tứ chạy theo không kịp lưỡi".[10] Tiếc cho lời nói ông Phan Khôi!

Nhân ông Khôi đã dẫn lời trong sách Mạnh Tử mà nói về chữ tính, tôi cũng xin do chữ tính ở Mạnh Tử, theo cùng ông thuyết minh.

Cứ đức Khổng ít nói đến tính. Sách Trung dung, câu mở đầu rằng: "天 命 之 謂 性 − Thiên mạnh chi vị tính". Nghĩa là: "Giời phú cho người ấy là tính". Ông Tử Tư[11] thuật cái ý của người trước truyền lại mà nói ra, cũng chỉ mới nói có như thế. Đến ông Mạnh thời hay nói về tính; trong một bộ Mạnh Tử, biện luận về chữ tính rất nhiều. Nay trích mấy đoạn có thiết nghĩa với việc thuyết minh trong bài đây, dẫn dịch như dưới: 口 之 於 味 也, 目 之 於 色 也, 耳 之 於 聲 也, 鼻 之 於 臭 也, 四 肢 之 於 安 佚 也, 性 也, 有 命 焉, 君 子 不 謂 性 也. Khẩu chi ư vị dã, mục chi ư sắc dã, nhĩ chi ư thanh dã, tỵ chi ư xú dã, tứ chi chi ư an dật dã, tính dã; hữu mạnh yên. Quân tử bất vị tính dã".

Nghĩa rằng: "Miệng người ta với cái vị ngon, mắt với cái sắc đẹp, tai với cái tiếng hay, mũi với cái mùi thơm, bốn chân tay với sự yên thư nhàn rỗi, đó là tính; vậy mà có mạnh[12]. Người quân tử không bảo nó là tính".

君 子 所 性, 仁 義 禮 智 根 於 心, 其 生 色 也, 誰 然 見 於 面, 盎 於 背, 施 於 四 體. Quân tử sở tính, nhân nghĩa lễ trí căn ư tâm. Kỳ sinh sắc dã, thùy nhiên hiện ư diện, áng ư bối, thi ư tứ thể…"

Nghĩa rằng: "Người quân tử mà kể là tính, thời như: điều nhân, điều nghĩa, điều lễ, điều trí, gốc rễ ở trong lòng. Mà những cái đó phát hiện ra bên ngoài, lào lạo trông thấy ở trước mặt, nây núc ở sau lưng, rung rinh cả ở bốn chân tay…"

Hai đoạn dẫn và dịch đây, cũng đều là những lời ông Mạnh Tử ở trong sách Mạnh Tử. Các lời biện luận về chữ "tính" ở chỗ khác trong Mạnh Tử chưa kể, hãy cứ xem như hai đoạn này, đủ thấy cái "tính giời sinh" của người ta, rộng lớn cao quý là như sao! Cái kiến giải  của ông Mạnh Tử đối với cái tính giời sinh của người ta, rộng lớn cao quý là như sao! Càng đủ thấy hai việc ẩm thực và nam nữ của người đời, tuy cũng là do cái tính giời sinh, mà địa vị giá trị của nó thật là hèn thấp nhỏ bé vậy.

Nay ông Phan Khôi chỉ cần đem bốn chữ "thực sắc tính dã" trong Mạnh Tử dẫn làm căn cứ cho bài luận lý của mình, để đối với những đàn bà con gái không đọc sách Mạnh Tử. Như thế, có thể làm cho ai nấy nhận hiểu sai lầm rằng: "Ở đời chỉ có hai việc ẩm thực và nam nữ là do cái tính giời sinh của người ta, mà không còn có sự vật gì đáng ở trên nó nữa; dẫu ông Mạnh Tử ngày xưa, cái kiến giải cũng chỉ có như thế". Ấy chủ ý của ông Khôi, trong mấy lời luận lý của ông như đã trích dẫn trên kia, thực ông muốn khiến được cho ai nấy nhận hiểu như thế. Vậy thời ra : ông đã mượn lời ông Mạnh Tử để làm lầm độc giả, ông lại khiến cho độc giả nhận lầm ông Mạnh Tử cũng là hạng người cùng một kiến giải như ông. Như thế thời về phần ông làm hại cho độc giả đã đành, mà thực ông lại làm oan cho ông Mạnh vậy. Gian thay! ông Phan Khôi. Ác thay! ông Phan Khôi. Tiểu nhiên thay! ông Phan Khôi.

Cứ mấy lời luận lý của ông Khôi, nếu không hết sức bài trừ, mà để cho ông được hành những cái gian, cái ác, cái tiểu nhân, thời nay ông đã viết ra bài này, mai ông chắc viết ra bài khác, ngấm ngầm truyền bá vào trong tâm lý một số người trong xã hội, xui khiến cho gái bỏ trinh tiết, giai bỏ trung hiếu; phàm những cái tốt đẹp của trong đạo làm người như nhân, từ, tín, hậu, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, đều bị những lời luận lý vô đạo ấy làm cho đến mất hết giá trị. Nếu lo cho quá, thời một phần nhân đạo chẳng sẽ do đó mà dần dần lấn lún đến trở ra cầm thú cẩu trệ sao? Nguy thật thay!

*

* *

Cùng hai câu thực ý của ông Khôi

Ông Khôi nói:

"Hễ đàn ông chết vợ thì lấy vợ khác; đàn bà chết chồng thì lấy chồng khác".

Xưa nay, đàn ông chết vợ mà lấy vợ khác, đàn bà chết chồng mà lấy chồng khác, vẫn là sự thường trong thế tục; có cần chi đến những nhà học vấn phải ra công luận lý mà khuyên bảo cho chúng ru?

Đàn ông hóa vợ mà ở yên không lấy vợ khác nữa, hạng người ấy gọi là "nghĩa phu  義 夫", từ xưa đến nay, thật ít thấy trong sử sách. Đàn bà hóa chồng mà ở yên không đi lấy chồng khác nữa[13], hạng người ấy gọi là "tiết phụ  節 婦", so với nghĩa phu thực có số nhiều hơn; song tóm tự nghìn xưa, nếu có thể cộng được toàn số đàn bà hóa chồng còn trẻ tuổi mà tính xem, chưa dễ nghìn ai mong có một! Vậy thời những người tiết phụ kia sinh ở nhân gian thế, dẫu chưa hẳn như phụng hoàng kỳ lân trong phi cầm tẩu thú, thời cũng là hòn ngọc ở núi đá, hạt châu nơi bể trai. Đời đời vua chúa, ơn ban "節 行 可  風  tiết hạnh khả phong", cũng vì là vật quý của đời, đời nên biết quý vậy.

Tục thuần hậu mỗi ngày càng kém xưa, gái trinh tiết mỗi ngày càng hiếm có; vật quý của đời lại đến lúc đời không biết quý, phong dao lý ngữ, nhiều câu nghe thấy đã thương tâm:

1. Lẳng lơ chết cũng ra ma;
Chính chuyên chết cũng khiêng ra đầy đồng.
2. Ông chết thì thiệt thân ông!
Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.
3. Bà chết thì thiệt thân bà!
Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.

Ba câu ca dao đó, ngẫm như một câu dẫn ở trước nhất, thực là do phong hóa suy đồi, tự ở mồm những kẻ hạ lưu xướng ra. Hai câu dẫn thứ hai, thứ ba ở sau, hoặc giả còn là có ai đó, vì cái bụng thương cho đời, ghét cho đời, mà phát ra những lời chua xót. Tôi tuy chưa dám nhận định nghĩa; song tóm lại chỉ đều là những câu ca dao mà không phải là lời luân lý. Lập thành thế, luận thành lý, thời mới thấy như  hai câu của ông Phan Khôi là thứ tư:

4. Đàn ông chết vợ, thì lấy vợ khác.
Đàn bà chết chồng, thì lấy chồng khác.

Hai chữ "thì" đó, ngẫm ra cho kỹ không còn tình nghĩa chút tơ vương; chính cũng như trong xóm bình khang thường có câu "cuốn chiếu nhân tình sạch" vậy! Hai câu đó, trước lúc chưa đem đăng báo, ông Khôi hoặc có cùng ngồi đàm luận với hai vị chủ nhân và chủ nhiệm tờ Phụ nữ tân văn mà đem ra cùng đọc, thời không biết cái cảm tưởng của những người nghe kia như sao?

Nghĩ cho phong hóa đến lúc đã suy đồi, chẳng ai có sức nào giữ lại được. Song thuộc phần hành vi riêng của cá nhân, ai có muốn sao cứ tự ý, thực cũng chưa mấy ai nhẫn tâm dụng lực mong tồi hoại cho cái nền hủ cựu đó chóng đổ đi làm chi. Có chăng, thời là ông tú Phan Khôi vậy.

鐫 功 奇 石 張 宏 範, 不 是 胡 兒 是 漢 兒. Thuyên công kỳ thạch Trương Hoành Phạm. Bất thị Hồ nhi thị Hán nhi!"[14]. − Ông Phan Khôi cũng là người trong Hán học ra, đó nhỉ?

Cứ trong lời đã thuyết minh về một đoạn trích dẫn trong bài luận lý ấy như trên, Phan Khôi là một người bại hoại phong hóa  敗 壞 風 化 vậy.

*

* *

Hợp hai bài bài trừ, An Nam tạp chí số 34 và 37 đây, thời Phan Khôi viết bài "Tống nho với phụ nữ" đăng trong Phụ nữ tân văn số 95 ra ngày 13 Août 1931, tức là kẻ có tội với danh giáo.

  1. Vu hãm tiên hiền;
  2. Loạn ngôn hoặc chúng;
  3. Bại hoại phong hóa.

Nay, chiểu theo hình luật ở Á Đông từ đời vua Thuấn mới đặt, có minh văn trong kinh Thư rằng: "扑 作 教  刑 − phốc tác giáo hình". Nghĩa là: "Cái roi, dùng làm hình phạt thuộc về sự giáo huấn". Cứ Phan Khôi phạm về tội danh giáo, vậy nên dùng roi để trừng.

Chiểu theo các trường dạy học chữ nho của ta khi xưa, phàm học trò học dốt, đọc không thuộc, hoặc có tội vô lễ, thời bắt phải nằm sấp xuống đất, đánh ba roi. Cứ Phan Khôi can phạm ba điều như đã yết trên đây, so với những tội học dốt, đọc không thuộcvô lễ thực lớn hơn gấp trăm. Vậy, nên đánh đòn ba trăm roi.

Chiểu theo pháp ý ở Á Đông, làm tội người đem ra ở chợ, để cùng có công chúng dự biết".[15] Cứ Phan Khôi phạm về tội danh giáo, nên đánh đòn ở trước sau Văn Miếu, để trên có các vị Tiên thánh, Tiên hiền cùng giám lãm, dưới có các sĩ phu trong phái Hán học cũng được dự biết.

Cứ các nhẽ đã sơ thẩm như trên, xin nghĩ kết Phan Khôi phải chịu ba trăm roi đòn, chia đánh ở ba nơi:

  1. Đánh ở trước sân Văn Miếu Thăng Long, là nơi gốc văn vật của sự học nho của nước ta từ triều nhà Lý.
  2. Đánh ở Huế, là nơi thủ phủ xứ Trung kỳ.
  3. Ở Quảng Nam, là nơi chốn của tội nhân sinh trưởng học tập.

Ngoài cái tội án Phan Khôi đã nghĩ kết, chiểu theo thường luật có bắt tội oa chủ: vậy những tiền phí giải Phan Khôi từ Nam ra Bắc, cho lại về đến Huế, về đến Quảng Nam, do ban Trị sự của Phụ nữ tân văn phải trích tiền quỹ của báo quán ấy cung nạp.

Giở lên các điều án nghĩ,[16] theo như lệ nghĩ kết về bài Phan Khôi viết "Cái cười của con rồng cháu tiên"; riêng bản án này, trên có tòa án Thượng thẩm riêng xét về danh giáo là toàn thể sĩ phu phái Hán học trong nước sẽ cùng phúc thẩm, dưới có tội nhân và oa chủ, ai có muốn thân oan, cứ được hết lời thân oan.

*

* *

Sau hết, phần riêng tôi xin có mấy câu gửi vào trong báo quán Phụ nữ tân văn rằng:

Có ai ở Bắc vào Nam
Để cho ta nhủ chị em biết mà:
"Phấn son tô điểm sơn hà,"
Chữ "trinh" giữ đạo đàn bà nước Nam.

Chủ bút phần Hán học trong An nam Tạp chí
TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

   




Chú thích

  1. Chữ "giết" đây chuyên đối với cái mình tinh thần của ông Khôi mà nói, cho nên bảo là "giết bỏ ông Phan Khôi ở trên đàn ngôn luận". Nếu nói về cái mình hình xác    của ông Khôi, thời tôi không có quyền được nói giết. Vả chăng cái mình hình xác thời ông Phan Khôi cùng với người vô học, vô tội khác, cũng không lấy gì làm khác nhau, thời cũng không can gì mà cần giết. Trong bài đây, phàm đối với ông Khôi mà nói đến chữ giết hoặc những chữ thuộc về sự giết, đều ý nghĩa như thế. Xin độc giả cẩn thận để ý. (nguyên chú của Tản Đà).
  2. Viên Sùng Hoán  袁 崇 煥 giết Mao Văn Long  毛 文 龍  là sự tích ở trong sử Trung Quốc về cuối đời nhà Minh. Nếu vị độc giả nào muốn biết tường, đợi có thì giờ, xin sẽ tường thuật ở kỳ khác. Đây chỉ nói qua để chư vị biết rằng: Hai người này cùng là tướng thần của Minh. Mao Văn Long cũng là người có tướng tài, chức Bình Liêu Tổng binh quan, coi quân trấn ở Song Đảo. Viên Sùng Hoán phụng mạnh sung chức Đốc sư ở Kế, Liêu. Đó một mặt chống nhau với quân Mãn Thanh trong khi hai nước đương tranh địch. Viên Sùng Hoán lấy chức vị Đốc sư, ra Song Đảo, triệu Mao Văn Long tới nơi, chém chết ở dưới trướng. Tới sau Sùng Hoán đắc tội, tuy vì một nhẽ khác mà vua Minh đem lòng ngờ, song lấy sự giết Mao Văn Long làm cớ. − Song Đảo là một cái cù lao giữa bể, ở về mạn tây nam phủ Phụng Thiên. (nguyên chú của Tản Đà).
  3. cẵng: hẵng, hãy.
  4. phú-lít (phỏng âm từ police): cảnh sát.
  5. Ông Khôi trỏ tay vào việc vợ Trần Hòa trong bài nói của ông. (nguyên chú của Tản Đà)
  6. Cứ ở sách Trình Tử, Y Xuyên tiên sinh, tên là Di ( 程 頤  Trình Di); Chu Tử, Hối Am tiên sinh, tên là Hy ( 朱 熹 Chu Hy). Trong bài của ông Khôi có nói đến cả hai người: Trình Tử, Chu Tử. Vậy mà ông nói đến Trình Tử, toàn viết là "Trình Hy"; còn tên của Chu Tử thời không thấy nói đến. Lấy họ của người nọ, đặt vào tên người kia, như thể hợp hai người làm một, thật là kỳ quặc! Xem sự học của ông Khôi cẩu thả vô nghĩa lý như vậy, thời về phần luận lý của ông đủ biết. (nguyên chú của Tản Đà)
  7. Lời hoặc giả. (nguyên chú của Tản Đà)
  8. Lời Trình Tử. (nguyên chú của Tản Đà).
  9. Lời ông Khôi ở đầu cột thứ hai trong bài ấy. (nguyên chú của Tản Đà)
  10. Tứ là thứ ngựa tốt, chạy nhanh. (nguyên chú của Tản Đà).
  11. Ông Tử Tư  子 思, tên là Cấp 伋, là cháu đích tôn của đức Khổng mà là học trò ông Tăng Sâm (ông Sâm là học trò đức Khổng). Ông Tử Tư làm sách Trung dung, một thiên ở đầu cũng là thuật sự học được của đức Khổng, thầy Tăng vậy. Ông Mạnh Tử lại là học trò ông Tử Tư. (nguyên chú của Tản Đà).
  12. Mạnh, nghĩa là phận định (nguyên chú của Tản Đà). Chú ý: chữ “mệnh” 命  được Tản Đà phiên âm là “mạnh”, trong khi Phan Khôi phiên âm là “mạng”.
  13. Đây cũng là nói những người còn trẻ tuổi. (nguyên chú của Tản Đà).
  14. Trương Hoành Phạm là quan của nước Tống, sau hàng theo về Nguyên, để quân Nguyên sang đánh Tống, đuổi vua Tống đến một nơi đèo bể là Nhai Sơn. Lục Tô Phu là ông quan theo hầu vua, cõng vua nhảy xuống bể, mất tích. Trương Hoành Phạm bèn ghi công vào đá rằng: 張 宏 範 滅 宋 於 此.  “Trương Hoành Phạm diệt Tống ư thử”; nghĩa là: “Tên Trương Hoành Phạm đánh mất được nhà Tống ở đây”. Chỗ đó, người đời sau qua lại, có hoài cảm nhiều thơ. Trong có một bài thơ có hai câu kết rằng: “Thuyên công kỳ thạch Trương Hoành Phạm; bất thị Hồ nhi, thị Hán nhi…” Nghĩa rằng: “Cái tên Trương Hoành Phạm mà khắc bia kể công vào hòn đá ở đó, có phải là thằng bé giống Hồ Nguyên đâu, chính là thằng bé con nhà giống Hán vậy”. (nguyên chú của Tản Đà).
  15. 刑 人 于 巿, 與 眾 共 之. Hình nhân vu thị, dữ chúng cộng chi. (nguyên chú của Tản Đà).
  16. Từ “nghĩ” Tản Đà dùng (án nghĩ, nghĩ kết,…) có lẽ nay nên hiển như “nghị”