Bích Câu kỳ ngộ/II

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bích Câu kỳ ngộ của Không rõ
II. Tú Uyên kết duyên cùng Giáng Kiều


Chạnh đâu nhớ chuyện bốc tiêm,
Tới đền Bạch-Mã, giải niềm cầu duyên.
Khấn rồi ra góc tây hiên,
Nén hương tắt đỏ, ngọn đèn nhỏ to.
Bóng trăng vừa xế cành ngô,
Giấc hòe dìu-dịu, chăn cù êm-êm.
Thấy người cao mũ rộng xiêm,
280Tay cầm thiết bảng, trang-nghiêm khác vời.
Trước sân sang-sảng dạy lời,
Rằng: "Mai sớm đợi ta ngoài sông Tô.
Lọ là oanh-yến hẹn hò,
Cầu Đông sẵn lối, cầu Ô đó mà!"
Vội mừng chợt tỉnh giấc hoa,
Sao vừa nhàn-nhạt, trời vừa eo-eo.
Lòng yêu phải bước chân theo,
Xăm-xăm ra đó vắng teo thấy gì.
Nước trong vắt, cỏ xanh rì
290Thạch-kiều thấy đó, giai-kỳ nào đâu?
Trông-mong đã suốt giờ lâu,
Ôm cây mãi thế ra màu cũng quê.
Chán chiều thơ-thẩn ra về,
Xem tình dở tỉnh dở mê, nực cười.
Bỗng may lại gặp một người,
Tay mang tranh vẽ, gót dời đường hoa.
Liền tay xin lĩnh xem qua,
Truyền-thần một tượng Tố-nga rành-rành.
Dịu-dàng vẻ đạm màu thanh,
300Như người gặp Quảng-văn-đình ngày xưa.
Càng nhìn nét bút, càng ưa,
Chàng Vương dẫu mạc bao giờ cho nên.
Mua về treo chốn thư-hiên,
Như ai đem ngọc giải phiền lại cho.
Mưa hoa khép cánh song hồ,
Sớm khuya với bức họa-đồ làm đôi.
Mâm chung một, đũa thêm hai,
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa,
310Có khi hình-ảnh cũng là phát-phu.
Êm trời vừa tiết trăng thu,
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng.
Chiều thu như gợi tấm thương,
Lòng người trông xuống sông Tương mơ hình.
Kề bên năn-nỉ bày tình,
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa.
Từ phen giáp mặt đến giờ,
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn.
Ấy ai điểm phấn tô son,
320Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Buồn đào nửa bước chẳng rời,
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khóa cung trăng,
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Chợt trông mấp-máy miệng đào,
Mặt hoa hớn-hở dường chào chúa Đông.
Cho hay tình cũng là chung,
Khách tiên chưa dễ qua vòng ái-ân!
Một khi ra việc trường văn,
330Trở về đã thấy bát-trân sẵn sàng.
So xem phong-vị khác thường,
Mùi hoa sực-nức, mùi hương ngạt-ngào.
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Sáng mai cứ buổi ra đi,
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi.
Bỗng đâu thấy sự lạ đời,
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhơn-nhơn mày liễu mặt hoa,
340Này người khi trước đâu mà đến đây?
Nàng đương trang-điểm nào hay,
Cửa ngoài sẽ hé cánh mây bước vào.
Vội-vàng đánh tiếng xa chào,
Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!
Rằng: "Bấy lâu một chữ tình,
Gặp đây xin tỏ tính-danh cho tường?"
Nàng rằng: "Bồ-liễu phận thường,
Vì mang má phấn nên vương tơ điều.
Vốn xưa thiếp khách thanh-tiêu,
350Tiên-Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên.
Ba sinh đã nặng vì duyên,
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ.
Nhân-duyên đã định từ xưa,
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân.
Cũng là nhờ đức tiên-quân,
Đóa hoa biết mặt chúa xuân từ rày".
Sinh rằng: "Trong bấy lâu nay,
"Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi.
Đã rằng: tác hợp duyên trời,
360Làm chi cho bận lòng người lắm nau!"
Nàng rằng: "Xin quyết gieo cầu,
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh.
Dám đâu học thói yến oanh,
Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương.
Gieo thoi trước đã dở-dang,
Sao nên nát đá phai vàng như chơi.
Mái Tây còn để tiếng đời,
Treo gương kim cổ cho người soi chung.
Lạ gì hoa với gió đông,
370Tiếc hương vả cũng nể lòng chim xanh.
Một mai mưa gió bất tình,
Vóc tàn nên để yến-oanh hững-hờ.
Nghĩ trong thân-phận yếu thơ,
Làm chi để tiếng sờ-sờ lại sau!"
Nói thôi rút chiếc trâm đầu,
Biến hình liền thấy đôi hầu theo ra.
Tưng-bừng sắm-sửa tiệc hoa,
Bình trầm đưa khói, chén hà đậm hương.
Giọng tình sánh với quỳnh-tương,
380Giả say sinh mới toan đường lần-khân.
Thưa rằng: "Túc trái tiền nhân,
Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi.
Song còn mấy bạn tương tri,
Bấy lâu chưa có chút gì là đâu.
Trước xin từ-biệt cùng nhau,
Chữ duyên này trở về sau còn dài".
Nghe lời nói cũng êm tai,
Chìu lòng chi nỡ ép-nài mưa mây.
Trước sân mừng cuộc tỉnh say,
390Tiếng vui đãi nguyệt, tiệc bày đối hoa.
Bóng mây bỗng kéo quanh nhà,
Thảo-am thoát đã đổi ra lâu-đài.
Tường-quang sáng một góc trời,
Nhởn-nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu-điệu, khách thanh-tao,
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai.
Lả-lơi bên nói, bên cười,
Bên mừng cố hữu, bên mời tân-lang.
Đong-đưa khoe thắm đua vàng,
400Vũ-y thấp-thoáng, Nghê-thường thiết-tha.
Yến tân chuốc chén năm ba,
Người còn vui tiệc, khách đà cáo say.
Kẻ ra nương bánh xe mây,
Người vào trướng gấm vui-vầy bạn loan.
Lả-lơi cười với hoa-nhan,
Trải chăn thúy-vũ, buông màn phù-dung.
Phòng tiên dìu dặt chén đồng,
Rèm tương giủ thấp, trướng hồng treo cao.
Ngẩn-ngơ hé cửa động đào,
410Mây tuôn bể ái, mưa rào sông ân.
Mấy vàng đổi được khắc xuân,
Xưa nay tài-tử, giai-nhân lạ gì?
Cho hay thiên tải giai kỳ,
Trăng già xe đã phải thì đào non.
Cũng là một mốt tơ son,
Năm-trăm năm cũng vuông tròn từ đây.
Đàn cầm từ thuở bén dây,
Khi đằm-thắm đã bõ ngày nhớ-nhung!
Khi gió mát, lúc trăng trong,
420Bầu tiên chuốc rượu, tơ đồng nối dây.
Khi tuyết xuống, lúc hương bay,
Câu thơ trên gác, bàn vây bên bình.
Tài hoa-quốc, sắc khuynh-thành,
Cầm, kỳ, thi, tửu, đủ vành trần-duyên.
Người tao-nhã, khách thuyền-quyên,
Phong, hoa, tuyết, nguyệt, là tiên trên đời.
Nhà lan sum-họp ban mai,
Đã trong tần-tảo, lại ngoài ty-ca.