Chiếu Cần Vương

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiếu Cần Vương  (1885) 
của Hàm Nghi, do Wikisource dịch từ văn ngôn

Chiếu Cần Vương, tên chính thức là Lệnh dụ thiên hạ cần vương, là lệnh dụ của vua Hàm Nghi nhà Nguyễn, tuyên bố ngày 13 tháng 7 năm 1885 (tức ngày mùng 2 tháng 6 năm Ất Dậu) tại căn cứ Tân Sở thuộc Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị khi phe chủ chiến của triều đình Huế thất bại trong trận chiến Kinh thành Huế ngày 5 tháng 7 năm 1885, nhà vua phải xuất bôn. Đây là lời dụ kêu gọi sĩ phu và dân chúng toàn quốc nổi dậy chống lại sự đô hộ của người Pháp lên đất nước Đại Nam sau Hiệp ước Giáp Thân (1884).

Toàn văn Chiếu Cần Vương
咸宜帝詔 Hàm Nghi đế chiếu

Dụ:


自古馭戎之策不出戰守和三者而已戰之則未有其機守之則難期得力和之則所求無厭當此事勢千難萬難不得已而用權太王遷岐玄宗幸蜀古之人亦有行之者

Tự cổ ngự nhung chi sách bất xuất chiến, thủ, hòa tam giả nhi dĩ. Chiến chi tắc vị hữu kỳ cơ, thủ chi tắc nan kỳ đắc lực, hòa chi tắc sở cầu vô yếm. Đương thử sự thế thiên nan vạn nan, bất đắc dĩ nhi dụng quyền. Thái Vương thiên Kỳ[1], Huyền Tông hạnh Thục[2], cổ chi nhân diệc hữu hành chi giả.


我國邇來偶因多故朕以沖齡嗣位其於自強自治不暇為謀

Ngã quốc nhĩ lai ngẫu nhân đa cố. Trẫm dĩ xung linh tự vị[3], kỳ ư tự cường tự trị bất hạ vi mưu.


西派横逼日甚一日昨者西兵船增來責以所難照常款接一不之受都人震懼危在旦夕謀國大臣深惟安社重朝至計與其俯首聽命坐失先機曷若伺其欲動而先應之縱然事出無奈猶待有此今日之舉以圖善後之宜亦係時勢起見凡預有分憂想亦預知知而預為之切齒衝冠殲仇敵愾誰無是心哉枕戈擎楫奪槊運甓亦豈無其人哉且人臣立朝徇義而己義之所在死生以之晉之狐偃趙衰唐之郭子儀李光弼古何人也

Tây phái[4] hoành bức nhật thậm nhất nhật. Tạc giả, Tây binh thuyền tăng lai trách dĩ sở nan, chiếu thường khoản tiếp, nhất bất chi thụ. Đô nhân chấn cụ, nguy tại đán tịch. Mưu quốc đại thần thâm duy an xã trọng triều chí kế, dữ kỳ phủ thủ thính mệnh, tọa thất tiên cơ, hạt nhược tứ kỳ dục động nhi tiên ứng chi. Túng nhiên sự xuất vô nại do đãi hữu thử kim nhật chi cử dĩ đồ thiện hậu chi nghi, diệc hệ thời thế khởi kiến. Phàm dự hữu phân ưu tưởng diệc dự tri. Tri nhi dự vi chi, thiết xỉ xung quan, tiêm cừu địch khái, thùy vô thị tâm tai? Chẩm qua, kình tiếp, đoạt sóc, vận bích, diệc khởi vô kỳ nhân tai? Thả nhân thần lập triều tuẫn nghĩa nhi kỷ, nghĩa chi sở tại, tử sinh dĩ chi. Tấn chi Hồ Yển, Triệu Thôi[5], Đường chi Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật[6] cổ hà nhân dã?


朕凉德遭此變故不能竭力斡旋都城淪陷慈駕播遷罪在朕躬慚愧無地惟倫常所係百辟鄉士無大無小必不朕棄智者獻謀勇者獻力富者出貲以助軍需同袍同澤不辭艱險當如何而可扶危持顛亨屯濟蹇者不靳心力庶幾天心助順轉亂為治轉危為安得宇歸疆此一機會尊社之福即臣民之福與同戚者與同休豈不韙歟若夫愛死之心重於愛君謀家之念切於謀國官則托故遠避兵則離伍潛逃民則不知好義急公士則甘於棄明投暗縱能偷生世上衣冠而禽犢胡忍為之醲賞重罰朝廷自有典型毋貽後悔其凛遵之

Trẫm lương đức, tao thử biến cố, bất năng kiệt lực oán toàn, đô thành luân hãm, từ giá bá thiên[7], tội tại trẫm cung, tàm quý vô địa. Duy luân thường sở hệ, bách tích hương sĩ vô đại vô tiểu, tất bất trẫm khí, trí giả hiến mưu, dũng giả hiến lực, phú giả xuất ty dĩ trợ quân nhu, đồng bào đồng trạch bất từ gian hiểm, đương như hà? Nhi khả phù nguy trì điên, hanh truân tế kiển giả bất cận tâm lực, thứ kỉ thiên tâm trợ thuận, chuyển loạn vi trị, chuyển nguy vi an, đắc vũ quy cương thử nhất cơ hội, tôn xã chi phúc tức thần dân chi phúc, dữ đồng thích giả dữ đồng hưu khởi, bất vĩ dư? Nhược phù ái tử chi tâm trọng ư ái quân, mưu gia chi niệm thiết ư mưu quốc, quan tắc thác cố viễn tỵ, binh tắc ly ngũ tiềm đào, dân tắc bất tri hiếu nghĩa cấp công, sĩ tắc cam ư khí minh đầu ám, túng năng thâu sinh thế thượng, y quan nhi cầm độc, hồ nhẫn vi chi? Nùng thưởng trọng phạt, triều đình tự hữu điển hình, vô di hậu hối! Kỳ lẫm tuân chi!


欽此

Khâm thử


咸宜元年六月初二日
Hàm Nghi nguyên niên lục nguyệt sơ nhị nhật

Bản dịch[sửa]

Chiếu vua Hàm Nghi

Dụ rằng :

Từ xưa sách lược chế ngự giặc không ngoài đánh, giữ, hòa, ba điều mà thôi. Đánh thì chưa chắc có cơ hội, giữ thì khó đạt đủ sức lực, hòa thì đòi hỏi không chán. Đang lúc thế sự muôn khó vạn khăn như vậy, bất đắc dĩ phải dụng quyền. Thái Vương dời sang đất Kỳ, Huyền Tông thăm chơi nẻo Thục, người đời xưa cũng đều có làm cả.

Nước ta gần đây bỗng gặp nhiều việc. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào nguôi nghĩ đến tự cường tự trị.

Phái viên Tây ngang bức, càng ngày càng quá. Trước đây, chúng tăng thêm binh thuyền, buộc theo những điều không thể được, ta chiếu lệ tiếp đón, không chịu nhận một thứ gì. Người kinh đô náo sợ, nguy biến chỉ trong sớm chiều. Đại thần lo việc quốc gia chỉ nghĩ kế nước được yên, triều đình được trọng ; cứ cúi đầu nghe mệnh, ngồi để mất cơ hội, sao bằng thấy âm mưu biến động của giặc mà đối phó trước ? Ví như việc đến không tránh được thì cũng còn có ngày nay để lo cho tốt cái lợi sau này, ấy là do thời thế xui nên vậy. Phàm đã dự chia mối lo này, tưởng cũng dự biết. Biết thì phải dự vào, nghiến răng dựng tóc, thề giết hết giặc, nào ai không có lòng như thế ? Gối gươm, đánh chèo, cướp giáo, lăn chum, chẳng lẽ không có ai sao ? Vả thần tử đứng ở triều chỉ có theo nghĩa thôi, nghĩa ở đâu thì sự chết sống ở đấy. Hồ Yển, Triệu Thôi nước Tấn, Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nhà Đường là người thế nào đời cổ vậy ?

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này, không thể hết sức giữ toàn, đô thành bị hãm, Từ giá phải dời, tội ở mình trẫm, xấu hổ vô cùng. Chỉ duy luân thường quan hệ, trăm quan khanh sĩ không kể lớn nhỏ, tất không bỏ trẫm, kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, kẻ giàu bỏ của trợ giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, phải thế chứ ? Đến như cứu nguy chống đỡ, mở chỗ nguy khốn, giúp nơi bức bách, không tiếc tâm lực, ngay sau lòng trời giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại cõi bờ chỉ cơ hội này, phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghỉ với nhau, há chẳng tốt sao ? Nhược bằng lòng sợ chết nặng hơn lòng yêu vua, nghĩ lo cho nhà hơn nghĩ lo cho nước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì đào ngũ trốn tránh, dân không biết hiếu nghĩa cứu gấp việc công, sĩ cam bỏ chỗ sáng đi vào nơi tối, ví không phải sống thừa ở đời thì áo mũ mà hóa ra cầm thú ngựa trâu, ai nỡ làm thế ? Thưởng cũng hậu mà phạt cũng nặng, triều đình tự có phép tắc, chớ để hối hận sau này ! Phải nghiêm sợ tuân hành !

Khâm thử.

Ngày 2 tháng 6 niên hiệu Hàm Nghi thứ nhất (1885)

   




Chú thích

  1. Chu Thái Vương đóng ở đất Mân, các bộ tộc Nhung, Địch và Đổng Dục tới đánh, Thái Vương phải dời đến Kỳ Sơn
  2. Đường Huyền Tông bị An Lộc Sơn lấy mất Trường An, phải chạy vào đất Thục (Tứ Xuyên)
  3. Vua Hàm Nghi lên ngôi mới 12 tuổi
  4. Chỉ phái viên của Pháp, tức thống tướng De Courcy
  5. Hồ Yển, Triệu Thôi: những người phó tá Tấn Văn Công dựng nên nghiệp bá
  6. Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật: những công thần giúp nhà Đường dẹp loạn An Sử
  7. Xa giá các bà Thái hậu phải rời Kinh chạy lên Khiêm lăng


Copyright.svg PD-icon.svgTác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộngHoa Kỳ vì nó được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1924.


Tác giả mất năm 1943, do đó tác phẩm này cũng thuộc phạm vi công cộng tại các quốc gia và vùng lãnh thổ có thời hạn bảo hộ bản quyềncuộc đời tác giả và 75 năm sau khi tác giả mất hoặc ngắn hơn. Tác phẩm này có thể cũng thuộc phạm vi công cộng ở các quốc gia và vùng lãnh thổ có thời hạn bảo hộ bản quyền dài hơn nhưng áp dụng luật thời hạn ngắn hơn đối với các tác phẩm nước ngoài.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 3.0 Chưa chuyển đổi, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc.

 

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.