50%

Cung oán ngâm khúc (bản phổ biến)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Xem các phiên bản khác của tác phẩm này tại Cung oán ngâm khúc.

Trải vách quế gió vàng hiu hắt[1]
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng[2]
Oán chi những khách tiêu phòng[3]
Mà xui phận bạc[4] nằm trong má đào.
Duyên đã may cớ sao lại rủi[5]? 5
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang?
Vì đâu nên nỗi dở dang
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình!

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa[6]
Vẻ phù dung một đóa khoe tươi[7] 10
Nụ hoa chưa mỉm miệng cười
Gấm nàng Ban[8] đã lạt mùi thu dung[9].
Áng đào kiểm đâm bông não chúng[10]
Khóe thu ba rợn sóng khuynh thành[11]
Bóng gương lấp loáng trong mành 15
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa[12].
Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa[13]
Hương trời đắm nguyệt say hoa
Tây Thi[14] mất vía, Hằng Nga[15] giật mình. 20
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý[16]
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương[17]
Cờ tiên rượu thánh ai đang
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm[18].
Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã[19] 25
Địch lầu thu dường gã Tiêu Lang[20]
Dẫu nghề tay múa miệng xang
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng[21].

Tài sắc đã vang lừng trong nước
Bướm ong còn xao xác ngoài hiên[22] 30
Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng[23].
Hoa xuân nọ còn phong nộn nhụy
Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang
Hồng lâu còn khóa then sương 35
Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành[24].
Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ[25]
Khách công hầu ngấp nghé mong sao[26]
Vườn xuân bướm hãy rào rào
Thấy hoa mà chẳng lối vào tìm hương[27]. 40
Gan chẳng đá khôn dường khá chuyển[28]
Mặt phàm kia dễ đến Thiên Thai[29]
Hương trời sá động trần ai
Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khi[30].
Ngẫm nhân sự[31] cớ gì ra thế 45
Sợi xích thằng đâu để vướng chân[32]
Vắt tay nằm nghĩ cơ trần
Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa duyên[33].
Kìa thế cục như in giấc mộng[34]
Máy huyền vi mở đóng khôn lường[35] 50
Vẻ chi ăn uống sự thường
Cũng còn tiền định khá thương lọ là[36]!
Đòi những kẻ thiên ma bách chiết[37]
Hình thì còn bụng chết đòi nau[38]
Thảo nào khi mới chôn nhau 55
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu[39]?
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần[40]. 60
Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc[41]
Lớp cùng thông như đúc buồng gan[42]
Bệnh trần đòi đoạn tâm toan[43]
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da[44].

Gót danh lợi bùn pha sắc xám[45] 65
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu[46]
Nghĩ thân phù thế mà đau[47]
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê[48]!
Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ[49]
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu[50] 70
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh[51]?
Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán[52]
Chết đuối người trên cạn mà chơi[53]
Lò cừ nung nấu sự đời[54] 75
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương[55].
Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc
Thú ca lâu dế khóc canh dài[56]
Đất bằng bỗng rấp chông gai
Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương[57]? 80
Mồi phú quý dử làng xa mã[58]
Bả vinh hoa lừa gã công khanh[59]
Giấc Nam Kha khéo bất bình[60]
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!
Sân đào lý mây lồng man mác[61] 85
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng[62]
Cánh buồm bể hoạn[63] mênh mang
Cái phong ba[64] khéo cợt phường lợi danh.
Quyền họa phúc[65] trời tranh mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai[66] 90
Cái quay búng sẵn trên trời[67]
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm[68].
Màu mộc thạch vàng kim ố cổ[69]
Nét cầm ngư ủ vũ ê phong[70]
Tiêu điều nhân sự đã xong 95
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư[71].
Cầu Thệ thủy ngồi trơ cổ độ[72]
Quán thu phong đứng rũ tà huy[73]
Phong trần đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này. 100
Tuồng ảo hóa[74] đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh[75] trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cổ khâu[76] xanh rì.
Mùi tục lụy dường kia cay đắng 105
Vui chi mà đeo đẳng trần duyên
Cái gương nhân sự chiền chiền[77]
Liệu thân này với cơ thiền phải nao[78]?
Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất tình[79] quyết dứt cho xong 110
Đa mang chi nữa đèo bòng
Vui gì thế sự mà mong nhân tình[80]?
Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm[81] đuốc tuệ[82] làm duyên
Thoát trần một gót thiên nhiên[83] 115
Cái thân ngoại vật[84] là tiên trong đời!
Ý cũng rắp ra ngoài đào chú[85]
Quyết lộn vòng phu phụ cho cam[86]
Ai ngờ trời chẳng cho làm
Quyết đem dây thắm mà giam bông đào[87]. 120

Hẳn túc trái làm sao đây tá[88]?
Hay tiền nhân hậu quả xưa kia[89]?
Hay thiên cung có điều gì[90]?
Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi?
Kìa điểu thú[91] là loài vạn vật 125
Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng
Có âm dương, có vợ chồng
Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê[92].
Đường tác hợp trời kia run rủi
Trốn làm sao cho khỏi nhân tình[93]? 130
Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh
Thử xem con tạo gieo mình nơi nao[94]?
Tay nguyệt lão khờ sao có một[95]
Bỗng tơ tình vướng gót cung phi[96]
Cái đêm hôm ấy đêm gì? 135
Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng[97].
Khoa thược dược mơ mòng thụy vũ[98]
Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu[99]
Cành xuân hoa chúm chím chào
Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai[100]. 140
Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió[101]
Áo vũ[102] kia lấp ló trong trăng
Sênh ca mấy khúc vang lừng
Cái thân Tây Tử lên chừng điện Tô[103].
Đệm hồng thúy[104] thơm tho mùi xạ 145
Bóng bội hoàn[105] lấp ló trăng thanh
Mây mưa mấy giọt chung tình[106]
Đình trầm hương khóa một cành mẫu đơn[107].
Tiếng thánh thót cung đàn thúy dịch[108]
Giọng nỉ non ngón địch đan trì[109] 150
Càng đàn càng địch càng mê
Càng gay gắt điệu càng tê tái lòng!
Mày ngài lẫn mặt rồng lồ lộ[110]
Sắp song song đôi lứa nhân duyên
Hoa thơm muôn đội trời trên 155
Cam công mang tiếng thuyền quyên với đời[111].
Trên chín bệ mặt trời gang tấc[112]
Chữ xuân riêng[113] sớm chực trưa chầu
Phải duyên hương lửa cùng nhau[114]
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào[115]. 160

Khi ấp mận ôm đào gác Nguyệt[116]
Lúc cười sương cợt tuyết đền Phong[117]
Đóa lê[118] ngon mắt cửu trùng
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu[119].
Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt[120] 165
Lòng quân vương chi chút trên tay
Má hồng không thuốc mà say
Nước kia muốn đổ thành này muốn long[121].
Vườn Tây Uyển khúc trùng Thanh Dạ[122]
Gác Lâm Xuyên điệu ngả Đình Hoa[123] 170
Thừa ân một giấc canh tà[124]
Tờ mờ nét ngọc lập lòa vẻ son.
Trên trướng gấm chí tôn[125] vòi vọi
Những khi nào gần gũi quân vương
Dẫu mà tay có nghìn vàng 175
Đố ai mua được một tràng mộng xuân[126]?
Thôi cười nọ lại nhăn mày liễu
Ghẹo hoa kia lại diễu gót sen[127]
Thân này uốn éo vì duyên[128]
Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời! 180
Lan mấy đóa lạc loài sơn dã
Uổng mùi hương vương giả lắm thay[129]!
Gẫm như cân trất duyên này[130]
Cam công đạt cái khăn này tắc ơ[131].
Tranh tỷ dực nhìn ưa chim nọ[132] 185
Đồ liên chi lần trỏ hoa kia[133]
Chữ Đồng lấy đấy làm ghi[134]
Mượn điều thất tịch mà thề bách niên[135].
Hạt mưa đã lọt miền đài các[136]
Những mừng thầm cá nước duyên may 190
Càng lâu càng lắm điều hay
Cho cam công kẻ nhúng tay thùng chàm[137].
Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt[138]
Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi
Suy di[139] đâu biết cơ trời 195
Bỗng không mà hóa ra người vị vong[140].
Đuốc vương giả chí công là thế[141]
Chẳng soi cho đến khóe âm nhai[142]
Muôn hồng nghìn tía đua tươi
Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần[143]. 200

Vốn đã biết cái thân cầu chõ[144]
Cá no mồi cũng khó nhử lên
Ngán thay cái én ba nghìn
Một cây cù mộc biết chen cành nào[145]?
Song đã cậy má đào chon chót 205
Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người
Nào hay con tạo trêu ngươi
Hang sâu hé chút mặt trời lại râm.
Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
Đêm năm canh trông ngóng lần lần 210
Khoảnh[146] làm chi bấy chúa xuân?
Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi[147]!
Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ[148]
Gác thừa lương thức ngủ thu phong[149]
Phòng tiêu[150] lạnh ngắt như đồng 215
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi[151].
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm[152]
Vẻ bâng khuâng hồn bướm[153] vẩn vơ
Thâm khuê vắng ngắt như tờ
Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo[154]. 220
Ngấn phượng liễu chòm rêu lỗ chỗ[155]
Dấu dương xa đám cỏ quanh co[156]
Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu[157]
Gối loan tuyết đóng chăn cù giá đông[158].
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng[159] 225
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền
Lạnh lùng thay giấc cô miên[160]
Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u[161].
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ
Mặt buồn trông trên cửa Nghiêm lâu[162] 230
Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa!
Buồn một nỗi hồn đà khắc khoải
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
Hoa này bướm nỡ thờ ơ 235
Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng!
Đêm năm canh lần nương vách quế
Cái buồn này ai để giết nhau?
Giết nhau chẳng cái lưu cầu[163]
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa! 240
Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra[164]!

Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái 245
Đóa hồng đào hái buổi còn xanh
Trên gác phượng, dưới lầu oanh
Gối du tiên[165] hãy rành rành song song.
Bây giờ đã ra lòng rẻ rúng
Để thân này cỏ úng tơ mành! 250
Đông Quân sao khéo bất tình[166]?
Cành hoa tàn nguyệt, bực mình hoài xuân[167].
Nào lúc tựa lầu Tần hôm nọ
Cành liễu mành bẻ thuở đương tơ
Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà 255
Mảnh xuân y[168] hãy sờ sờ dấu phong.
Bây giờ đã ra lòng ruồng rẫy
Để thân này nước chảy hoa trôi
Hóa công sao khéo trêu ngươi
Bóng đèn tà nguyệt nhử mùi ký sinh[169]. 260
Cảnh hoa lạc nguyệt minh[170] dường ấy
Lửa hoàng hôn như cháy tấm son
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa!
Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng 265
Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn
Tình buồn cảnh lại vô duyên[171]
Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này.
Khi trận gió lung lay cành bích
Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xa 270
Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra
Đốt phong hương hả[172] mà hơ áo tàn.
Ai ngờ tiếng dế than ri rỉ
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng[173]
Vắng tanh nào thấy vân mồng[174] 275
Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh[175].
Khi bóng thỏ chênh vênh trước nóc[176]
Nghe vang lừng tiếng giục bên tai:
Đè chừng nghĩ tiếng tiều đòi[177]
Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo[178]. 280
Ai ngờ tiếng quyên[179] kêu ra rả
Điệu thương xuân khóc ả sương khuê[180]
Lạnh lùng nào thấy ủ ê
Khí bi thu sực nức hè lạc hoa[181].

Tiếng thúy điện cười già ra gắt[182] 285
Mùi quyền môn thắm rất nên phai[183]
Nghĩ nên tiếng cửa quyền ôi
Thì thong thả vậy cũng thôi một đời[184].
Ví sớm biết lòng trời đeo đẳng[185]
Dẫu thuê tiền cũng chẳng buồn tênh[186] 290
Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa đã trót gieo cành[187] biết sao!
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm[188]
Mùi hoắc lê[189] thanh đạm mà ngon
Cùng nhau một giấc hoành môn[190] 295
Lau nhau ríu rít cò con cũng tình[191].
Ví sớm biết phận mình ra thế
Giải kết điều ỏe họe làm chi[192]?
Thà rằng cục mịch nhà quê
Dầu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này[193]. 300
Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ[194]
Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn[195]
Muốn đem ca tiếu[196] giải phiền
Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu[197].
Ngọn tâm hỏa đốt rầu nét liễu[198] 305
Giọt hồng băng thấm ráo làn son[199]
Dơ buồn đến thú cỏn con[200]
Trà chuyên nước nhất, hương dồn khói đôi[201].
Trong gang tấc mặt trời[202] xa bấy!
Phận hẩm hiu nhường ấy vì đâu? 310
Sinh ly đòi rất thời Ngâu[203]
Một năm còn thấy mặt nhau một lần.
Huống chi cũng lạm phần son phấn
Luống năm năm chực phận buồng không!
Khéo vô duyên với cửu trùng 315
Son nào nhuộm được má hồng cho tươi?
Vườn thượng uyển hoa cười với nắng
Lối đi về ai chẳng chiều ong[204]?
Doành Nhâm một dải nông nông[205]
Bóng dương bên ấy đứng trông bên này[206]. 320

Tình rầu rĩ khôn khuây nhĩ mục[207]
Chốn phòng không như giục mây mưa[208]
Giấc chiêm bao những đêm xưa
Giọt mưa cửu hạn còn mơ đến rày[209].
Trên chín bệ có hay chăng nhẽ? 325
Khách quần thoa mà để lạnh lùng!
Thù nhau chi hỡi đông phong[210]?
Góc vườn đãi nắng cầm bông hoa đào[211].
Tay tạo hóa cớ sao mà độc
Buộc người vào kim ốc[212] mà chơi! 330
Chống tay ngồi nghĩ sự đời
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm!
Nơi lạnh lẽo nơi xem gần gặn[213]
Há phai son nhạt phấn ru mà?
Trêu ngươi chi bấy trăng già[214]? 335
Sao cho chỉ thắm mà ra tơ mành[215]?
Lòng ngán ngẫm buồn tênh mọi nỗi
Khúc sầu tràng[216] bối rối đường tơ
Ngọn đèn phòng động đêm xưa
Chòm hoa tịnh đế[217] trơ trơ chưa tàn. 340
Mà lượng thánh đa đoan kíp bấy[218]!
Bỗng ra lòng rún rẩy[219] vì sâu?
Bõ già tỏ nỗi xưa sau
Chẳng đem nỗi ấy mà tâu ngự cùng[220]?
Đêm phong vũ lạnh lùng có một[221] 345
Giọt ba tiêu[222] thánh thót cầm canh
Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh[223]
Vách sương nghi ngút, đèn xanh lờ mờ.
Mắt chưa nhắp đồng hồ đã cạn[224]
Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao! 350
Buồn này mới gọi buồn sao!
Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình!
Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi[225]
Những hương sầu phấn tủi bao xong[226]?
Phòng khi động đến cửu trùng 355
Giữ sao cho được má hồng như xưa[227]?

   




Chú thích

  1. Người cung phi trải qua năm tháng sống đời giam cầm trong vách quế, với những cơn gió thu hắt hiu, lạng lẽo. Vách quế: tức "cung quế" (quế cung), cung điện của cung phi, thời trước chỉ trồng một cây quế ở trước cửa. Gió vàng: gió mùa thu
  2. Vũ y: áo dệt bằng lông chim ngũ sắc của cung phi. Thâm ý của câu thơ này: người cung phi mặc áo lông chim, vậy mà nàng vẫn cảm thấy lạnh ngắt như đồng
  3. Tiêu phòng: phòng của cung phi, có bôi tiêu trên vách tường cho thơm và ấm
  4. Phận bạc: số phận mỏng manh
  5. Duyên may vì... được làm vợ vua, nhưng rủi vì... phải làm vợ vua!
  6. Tạo hóa sinh ra mình
  7. Sắc đẹp của cung nữ giống như hoa phù dung, loài hoa có sắc hồng nhạt tuyệt đẹp nhưng sớm nở tối tàn
  8. Nàng Ban Tiệp Dư là cung nhân của vua Hán Thành Đế, lúc đầu được vua yêu dấu, sau bị nàng Triệu Phi Yến gièm pha, nàng đành lánh sang chầu Thái hậu, mẹ vua. Ngày càng bị vua lạnh nhạt, nàng đau buồn làm một chiếc quạt lụa trắng, trên viết một bài thơ than thân phận mình giống như chiếc quạt:
    Mới chế lụa Tề trắng
    Trong sạch như sương tuyết
    Đem làm quạt Hợp hoan
    Tròn vạnh như mặt nguyệt
    Ra vào trong tay vua
    Lay động sinh gió mát
    Thường sợ tiết thu đến
    Gió lạnh cướp nồng nhiệt
    Ném cất vào xó rương
    Nửa đường ân ái tuyệt
  9. Lạt mùi thu dung: tình với quạt của nàng Ban đã phai lạt như gương mặt lạnh lẽo của mùa thu. Ý của cả hai câu thơ trên: người cung nữ chưa hề được hưởng hạnh phúc thực sự, thì đã sớm bị ruồng bỏ
  10. Nàng đẹp như Đào Kiển ngày xưa, khiến các cung nữ khác phải lo phiền. "Chúng" (tiếng cổ) nghĩa là "mọi người". Đào Kiển là cung phi nhất phẩm phu nhân của vua Thuận Đế nhà Nguyên. Nàng có vẻ mặt tươi đẹp như hoa đào đượm sương
  11. Khóe thu ba: mắt người con gái đẹp, ướt long lanh như sóng nước mùa thu. Khuynh thành: đẹp nghiêng thành
  12. Khi bóng nàng thoáng hiện dưới mành thì đến cả cỏ cây cũng khát thèm ân ái. Mây mưa (vân vũ): Vua Sở Tương Vương chơi ở đầm Vân Mộng, gần núi Vu Sơn, nằm mộng thấy Vu Sơn thần nữ xuống ân ái với mình. Nàng hẹn rằng buổi sớm nàng hóa thành mây, buổi chiều nàng hóa thành mưa. Bởi tích này người đời sau gọi cuộc ân ái là "cuộc mây mưa"
  13. Nàng đẹp đến mức "nhạn sa cá lặn"
  14. Tây Thi: người con gái đẹp tuyệt thế thời Xuân Thu. Nguyên nàng là cô gái giặt lụa ở xứ Trữ La nước Việt. Phạm Lãi, mưu thần của Việt Vương Câu Tiễn, tìm nàng rồi dùng "mỹ nhân kế" dâng nàng cho Ngô Phù Sai, kẻ thù của nước Việt. Ngô Phù Sai say mê nàng đến nỗi mất nước. Sau Phạm Lãi đem Tây Thi đi chơi cảnh Ngũ Hồ rồi mất tích
  15. Hằng Nga: Vợ của Hậu Nghệ, đời vua Hoàng Đế (truyện thần thoại). Hậu Nghệ xin được thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu. Hằng Nga uống trộm thành tiên trốn lên cung trăng. Nàng cũng là người con gái đẹp tuyệt sắc
  16. Câu thơ đẹp như gấm thêu, hơn cả Lý Bạch. Lý Bạch là đệ nhất thi nhân đời Đường
  17. Tài vẽ tranh hơn cả Vương Duy. Đan thanh: hội họa (đan: màu đỏ, thanh: màu xanh). Vương Duy là nhà thơ, họa sĩ nổi tiếng đời Đường
  18. Lưu Linh: người cuối đời Tấn, nổi tiếng về... đức uống rượu. Đế Thích: vua cờ (cờ tiên). Tri âm: bạn hữu hiểu nhau (hiểu rõ "âm tiếng" của nhau)
  19. Gảy đàn nơi đình điếm đêm trăng chẳng khác gì Tư Mã Tương Như. Tư Mã Tương Như là người văn hay đàn giỏi đời Hán, đã đàn khúc "Phượng cầu hoàng" khiến Trác Văn Quân bỏ nhà đi theo làm vợ
  20. Thổi sáo ở lầu thu hay như Tiêu Lang. Tiêu Lang như đời Xuân Thu, có tài thổi sáo như tiếng chim phượng kêu
  21. Khi nàng múa hát thì ngay cả các tiên nữ mặc áo nghê thường trong cung trăng cũng phải ngơ ngẩn
  22. Cánh đàn ông xôn xao ngấp nghé muốn cầu thân
  23. Vua nghe đồn về nàng, tuy chưa gặp mặt mà lòng thèm khát nàng đã trỗi dậy. Tề Tuyên Vương là một ông vua hiếu sắc
  24. Bốn câu thơ tả việc giữ gìn phẩm ngọc của người nữ nhi, như hoa xuân phong nhụy, như trăng thu chưa hé ánh sáng lạnh, như lầu hồng còn khóa then, như buồng khuê còn ủ kín hương sắc khuynh thành
  25. Những trang võ dũng rắp ranh xin làm rể. Bắn sẻ: chọn rể. Cha nàng Đậu Hậu xưa chọn rể bằng cách vẽ một con chim công lên bức bình phong, ai bắn trúng mắt công thì thắng cuộc (chữ "tước" có hai nghĩa: công và sẻ)
  26. Khách công hầu (quan chức) cũng gấm ghé mong lấy được nàng
  27. Song nàng... vẫn không tiếp. Có lẽ câu thơ này bắt nguồn từ câu ca dao: Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
  28. Tuy gan nàng không là đá, nhưng lay chuyển lòng nàng đâu phải dễ?
  29. Những kẻ tầm thường kia làm sao bén được tới cõi Thiên thai của nàng
  30. Nàng như tiên nữ trên trời, đâu dễ động lòng với chuyện yêu đương ở cõi trần? Nàng đâu dễ xiêu lòng vì vàng bạc? (Dù mang nghìn lạng vàng cũng không mua nổi một nụ cười của nàng)
  31. Nhân sự: việc người
  32. Sợi xích thằng: dây tơ hồng buộc trai gái với nhau. Cung nữ bất bình với thứ dây tơ đang buộc chân nàng
  33. Nàng muốn dùng nước rương của nhà Phật để dập tắt ngọn lửa yêu đương trong lòng nàng. Nước dương: cành dương liễu nhúng vào nước phép, Phật Bà Quan Âm dùng để ban phước cho chúng sinh
  34. Từ câu này, tác giả diễn giải sự đời theo thuyết nhà Phật
  35. Cơ trời huyền bí, mở đóng thế nào, con người không thể biết được
  36. Ngay cả việc ăn uống cũng đều có tiền định cả
  37. Biết bao kẻ bị ngàn lần mài sắt, trăm lần bẻ gãy. Đòi: (tiếng cổ) nhiều, thiên ma: ngàn lần mài, bách chiết: trăm lần bẻ
  38. Hình hài tuy còn nhưng ruột gan đã từng chết nhiều phen. Đòi nau: nhiều phen
  39. Bãi bể nương dâu: biển xanh biến thành nương dâu. Ý nói vật đổi sao dời
  40. Đã bao lần phải lâm vào những cảnh: sống, chết, kinh, khiếp
  41. Vì lo lắng việc thành bại mà mái tóc cằn đi
  42. Cùng quẫn rồi hanh thông, những điều đó thôi thúc tâm can
  43. Căn bệnh cố hữu của cuộc đời nhiều phen làm nát gan
  44. Đói như lửa đốt ruột, rét như dao cắt da
  45. Vì đi kiếm danh lợi mà gót chân giẫm vào bùn nhơ đen xám
  46. Khuôn mặt đã chường với gió bụi, lại bị nắng thiêu đen đúa. Mùi (màu) dâu: màu nâu đỏ
  47. Thân phù thế: tấm thân trong cuộc đời trôi nổi
  48. Bể khổ, bến mê: theo quan niệm của nhà Phật, cuộc đời chính là bể khổ bởi sinh, lão, bệnh, tử (sinh đẻ, già nua, bệnh tật, chết chóc) cùng nhiều tai ách khác. Cuộc đời cũng là bến mê (mê tân) bởi con người thực ra chưa giác ngộ chân lý
  49. Vì nếm mùi trần tục mà lưỡi tê với đắng cay
  50. Vì đường đời gập ghềnh mà gót chân phải nứt rỗ
  51. Đời người không khác gì chiếc thuyền bèo bọt lô xô chao đảo trên biển sóng cồn?
  52. Hóa nhi kia thật ác quá chừng. Trẻ tạo hóa: người xưa gọi bỡn trời là trẻ con, bởi những hành vi bất thường và "vô lý" của ngài
  53. Tạo hóa bày trò làm con người chết đuối ngay trên cạn
  54. Chiếc lò vĩ đại của trời nung đúc ra tất cả sự đời rắc rối
  55. Kiếp người biến thiên mau chóng tựa như đám mây phút chốc biến thành hình con chó. Tang thương: biển xanh biến thành nương dâu
  56. Đoạn này tác giả diễn tả sự suy tàn của cảnh vàng son. Những gác lầu xưa kia làm nơi ca xướng vui chơi thì nay chỉ còn dế khóc canh dài
  57. Hình ảnh con người bị ai đem bóng chiều tà làm cho võ vàng
  58. Làng xa mã: xã hội qùy tộc
  59. Gã công khanh: bọn quan lại
  60. Giấc Nam Kha: giấc mộng hão huyền. Bất tình: vô tình
  61. Nơi xưa kia tụ tập những nhân vật quan chức tài năng, thì nay chỉ thấy còn mây lồng man mác. Sân đào lý: sân tụ họp những nhân vật tài năng được tiến cử
  62. Cảnh phú qùy ngày xưa nay chỉ còn bóng trăng mờ ảo. Nền đỉnh chung: cảnh phú qùy. Đỉnh (cái vạc), chung (cái chuông) là những món đồ đặc trưng cho các gia đình quyền qùy xưa
  63. Bể hoạn: bể hoạn nạn
  64. Phong ba: cơn sóng gió của cuộc đời
  65. Quyền họa phúc: quyền quyết định cho con người được hưởng phúc hay phải chịu tai họa
  66. Sự thuận lợi, điều kiện dễ dàng, trời chẳng ban cho ai
  67. Luật luân hồi đã định sẵn nơi thiên đình. Cái quay: luân xa, bánh xe tượng trưng cho vòng luân hồi (thuyết nhà Phật)
  68. Con người sống ở đời mù mịt như đi đêm. Hình ảnh, ý nghĩa của câu thơ này từ lâu đã trở thành một thành ngữ dân gian, ám chỉ những kẻ sống mờ nhạt trên đời, không biết làm chủ vận mệnh của mình
  69. Màu sắc của những thứ gỗ đá (kiến trúc, điêu khắc) xưa nay đều bị ố vàng.
  70. Dáng nét chim cá (trong các bức họa) cũng bị mưa gió làm ủ ê. Có học giả giải nghĩa hai câu thơ trên như sau: cả gỗ đá cũng bị thời gian làm vàng ố, cả chim cá cũng bị gió mưa làm ủ ê.
  71. Núi sông cũng mai một, côn trùng cũng tồn hư
  72. Cầu Thệ thủy vẫn ngồi trơ trơ nơi bến cũ. Ý nói thời gian quá dài làm mọi vật trở nên mệt mỏi
  73. Quán Thu phong (quán chờ đợi sự cứu trợ của người khác) đứng rũ trong bóng chiều
  74. Ảo hóa: trở nên hư ảo
  75. Phù sinh: sống trôi nổi trên cõi đời
  76. Cổ khâu: nấm mồ cũ kĩ
  77. Chiền chiền: rành rành
  78. Liệu có nên mang thân này đến với cửa thiền chăng? Cơ thiền: máy Thiền, tức đạo Phật
  79. Thất tình: bảy thứ tình của con người là hỉ-vui, nộ-giận, ai-buồn, lạc-sướng, ái-yêu, ố-ghét, dục-muốn. Đạo Phật chủ trương dứt bỏ bảy thứ tình đó
  80. Nhân tình: Tình người
  81. Hoa đàm: ưu đàm hoa, một loài hoa thiêng của nhà Phật, ba ngàn năm mới nở một lần, khi nở là có một vị Phật ra đời
  82. Đuốc tuệ: ngọn đuốc trí tuệ của nhà Phật, soi đường cho chúng sinh ra khỏi nơi mê chướng
  83. Gót chân thoát khỏi cảnh trần tục, hòa hợp với trời đất
  84. Thân ngoại vật: người ở ngoài vòng trói buộc của vật dục, sống thanh thản tựa cỏ cây gỗ đá vô tri
  85. Ý của nàng cũng muốn thoát khỏi vòng nhào nặn của trời. Đào chú: nhào nặn, nung đúc
  86. Muốn lộn ra khỏi vòng ràng buộc của cảnh vợ chồng cho thỏa ý
  87. Trời đã quyết đem dây ràng buộc bông hoa đào (người con gái đẹp)
  88. Chắc hẳn có món nợ tiền kiếp gì đây. Túc trái: nợ kiếp trước
  89. Hoặc có nguyên do từ đời trước mà tạo ra cái hậu quả bây giờ
  90. Hoặc ta đã làm điều gì lầm lỗi ở thiên cung, nên bị đày xuống trần để trả nợ? Theo thuyết nhân quả của đạo Phật thì một nguyên nhân thiện lành sẽ sinh ra một hậu quả thiện lành, một nguyên nhân ác dữ sẽ sinh ra một hậu quả ác dữ. Do đó có thể xem nguyên nhân mà đoán biế được hậu quả, và có thể xem hậu quả mà tìm hiểu được nguyên nhân. Tính đúng đắn của thuyết nhân quả đã được lịch sử của các dân tộc cũng như của mỗi con người chứng minh rõ rệt
  91. Điểu thú: chim muông
  92. Kể cả trời đất chẳng qua cũng là vợ chồng
  93. Ta thoát làm sao được lưới tình của con người?
  94. Ý nói con người không thể làm chủ được số mệnh thì đành khuất phục số mệnh. Đó là tư tưởng tiêu cực trong triết lý tôn giáo của tác giả
  95. Nguyệt lão: ông tơ. Ở đây cung phi lên tiếng oán trách và kết tội Nguyệt lão
  96. Nguyệt lão "vô cớ" đem tơ hồng buộc chân cung phi
  97. Câu thơ miêu tả cuộc ân ái đầu tiên của nhà vua và cung phi, rõ ràng mang nặng tính chất sắc dục chứ không phải tình yêu. Bóng dương: ánh mặt trời, đồ mi: một loài hoa leo, sắc trắng pha vàng, chỉ cung nữ
  98. Cành hoa thược dược say mơ vì được cơn mưa lành. Thược dược: loài hoa giống mẫu đơn nhưng ít cánh, được tôn là "hoa tướng" - tể tướng của loài hoa. Thụy vũ: cơn mưa báo điềm lành, khoa: cành
  99. Đóa hải đường ngủ say trong đêm xuân (tả người cung nữ xinh đẹp). Điển tích: Dương Quý Phi nằm ngủ, Đường Minh Hoàng gọi mấy lần không dậy, vua bèn nói: "Hoa hải đường ngủ chưa đủ sao?"
  100. Ý nói: vì nàng quá ư xinh đẹp như hoa đào hoa mai nên gió đông của chúa xuân không ngừng cợt ghẹo
  101. Xiêm nghê: áo dệt bằng lông chim ngũ sắc. Câu thơ tả cung nữ rất hiện thực và gợi cảm, cho thấy bút pháp của tác giả nhiều lúc đã vượt ra ngoài khuôn khổ của văn chương phong kiến
  102. Áo vũ (vũ y): áo lông chim
  103. Nàng chẳng khác gì Tây Thi ở điện Cô Tô xưa kia
  104. Đệm hồng thúy: đệm thêu bằng lông chim phỉ thúy, sắc xanh đỏ
  105. Bóng bội hoàn: thứ ngọc qùy phụ nữ sang trọng xưa đeo ở phía dưới thân mình, để những khi đi lại phát ra tiếng leng keng
  106. Mây mưa: cuộc ái ân. Có thể nói lúc này cung nữ đang lầm lẫn, tưởng rằng cuộc ân ái mặn nồng với nhà vua là một mối "chung tình"
  107. Nàng được coi là hoa mẫu đơn, vua của các loài hoa, và được vua cho ở riêng trong "đình trầm hương". Đình trầm hương: nhà lục giác bằng gỗ trầm hương, nơi Đường Minh Hoàng ngồi cùng Dương Qúy Phi xem hoa mẫu đơn nở
  108. Nàng chơi đàn thánh thót. Thúy dịch: cung thự sơn màu xanh biếc, ở hai bên cửa vào Đại nội.
    Từ đoạn này tác giả tả vệc cung nữ bị lôi cuốn vào cuộc truy hoan với nhà vua (thực chất chỉ là một kẻ dâm đãng) và nàng ngộ nhận đó là hạnh phúc nhân duyên
  109. Nàng thổi sao nỉ non. Đan trì: thềm điện đài, cung cấm, sơn màu đỏ
  110. Rành rành mày ngài (của nàng) sánh cùng mặt rồng (của vua)
  111. Nàng cảm ơn vua và lấy làm thỏa mãn vì mình đã bõ công làm gái thuyền quyên (người con gái tài sắc xuất chúng)
  112. Được gần gũi vua trên ngai vàng. Chín bệ: cửu trùng, nơi vua ngự. Mặt trời: chỉ vua
  113. Xuân riêng (xuân tình, xuân ý): tình yêu nơi người con gái
  114. Một khi đã hợp duyên nhau
  115. Không cần phải rắc lá dâu (để dụ con dê kéo xe) thì xe dê của vua vẫn vào với nàng. Ở đây cung nữ đang đắc ý vì được vua yêu vì hơn kẻ khác. Thực ra vua say nàng chỉ vì nàng "mới", trẻ đẹp, nhưng nàng ngộ nhận rằng đó là duyên "hương lửa" (tình yêu thực sự)
  116. Vua ấp yêu nàng nơi gác trăng
  117. Cả hai người vui đùa nơi đền gió
  118. Đóa lê: hoa lê, sắc trắng như hoa mai, đẹp như người gái thơ. Trước kia Bạch Cư Dị tả Dương Quý Phi đẹp như đóa hoa lê đẫm mưa xuân
  119. Điển tích: Quắc quốc phu nhân (em thứ ba của Dương Quý Phi) có sắc đẹp tự nhiên. Nàng cho việc trang điểm là làm nhơ nhan sắc của mình nên lúc vào chầu vua, nàng chỉ kẻ thêm một nét mày lợt mà thôi, nhưng vẫn được vua ưa chuộng
  120. Vua chăm chút yêu chiều nàng như một vưu vật (của hiếm lạ)
  121. Chính nàng cũng say sưa, và càng đẹp đến nghiêng nước nghiêng thành
  122. Khúc trùng: tấu một lần nữa. Thanh Dạ: tên một bài hát do Tùy Dương Đế đặt ra để hát chơi cùng các cung nhân trong đêm thanh nơi vườn Tây uyển
  123. Điệu ngả: điệu say đắm. Đình Hoa (Hậu Đìnn Hoa): tên một khúc hát do Trần Hậu chủ đặt cho các cung nữ hát, ở gác Lâm Xuân
  124. Nàng được hưởng ơn vua một giấc đêm khuya chăn gối (suy nghĩ của nàng thật đáng thương vì nàng chưa vượt được lên trên tầm của một kẻ tì thiếp, nô lệ)
  125. Chí tôn: chỉ vua
  126. Tràng mộng xuân: giấc mộng vinh hoa đẹp nhưng ngắn ngủi. Cung nữ vô cùng tự đắc về hạnh phúc mình đang được hưởng, cho dù nó ngắn ngủi
  127. Gót sen: gót chân đàn bà đẹp. Điển tích: Nàng Phàn Phi có dáng đi rất đẹp, chồng nàng là Đông Hôn Hầu bèn cho khảm những hoa sen vàng trên nền điện. Khi nàng đi, ông khen rằng: "Mỗi bước đi nẩy một đóa sen"
  128. Câu thơ cho thấy tính chất táo bạo của bút pháp Nguyễn Gia Thiều
  129. Hoa phong lan sang qùy mà phải sống lạc loài nơi sơn dã thì thật uổng. Phong lan: giống hoa rừng đẹp và thơm, được người xưa ví với bậc quân vương, ở đây ví với cung nữ
  130. Nàng xét phận nàng là con gái được may mắn lọt vào nơi sang qùy. Cân trất: khăn lược, chỉ việc của đàn bà con gái
  131. Thì cũng bõ công làm phận gái. Đặt cái khăn: xưa nếu sinh con gái thì đặt một cái khăn ở bên phải cửa phòng đẻ, ngụ ý rằng việc nâng khăn sửa túi là việc con gái. Tắc ơ: tiếng tắc lưỡi, tỏ vẻ ngán ngẩm, bởi quan niệm trọng nam khinh nữ
  132. Nàng cùng vua ưa nhìn trang "chim chắp cánh". Tỷ dực: truyền thuyết xưa kể rằng ở phương Nam có giống chim mà con trống và con mái mỗi con chỉ có một cánh, muốn bay chúng phải chắp cánh lại. Điển này sau được ví với tình vợ chồng
  133. Cả hai cùng hay chỉ vào "cây liền cành". "Đồ liên chi": đồ vật có vẽ hình "cây liền cành"
  134. Cả hai cùng thề nguyền ghi tạc chữ Đồng (cùng nhau mãi)
  135. Mượn chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ mà thề trăm năm chung thủy. Thất tịch: ngày 7 tháng 7, Ngưu Lang - Chức Nữ gặp nhau
  136. Tác giả rút từ câu ca dao:
    Thân em như hạt mưa sa
    Hạt vào đài các, hạt ra ao bèo
  137. Cho bõ với việc làm liều lĩnh là... dám lấy vua!
    Không phải cung nữ không linh cảm thấy việc lấy vua là nguy hiểm. Tác giả ví von rất đắt: làm vợ vua khác nào "nhúng tay thùng chàm"
  138. Kể từ đoạn này, tác phẩm miêu tả "việc phải đến đã đến". Nàng dần dần bị vua lạnh nhạt
  139. Suy di: run rủi, thay đổi
  140. Nàng bỗng dưng trở thành kẻ góa chồng (bởi vì người chồng tuyệt nhiên không bao giờ đến với nàng nữa. Vị vong: sống như kẻ chưa chết. Đó là thân phận đàn bà xưa góa chồng
  141. Câu thơ đầy ý mỉa mai oán trách (kẻ làm vua vẫn tự khoa khoang là bậc anh minh và công bằng). Đuốc vương giả: ngọn đuốc trí tuệ sáng suốt của bậc vương giả. Chí công: hết sức công bằng
  142. Khóe âm nhai: nơi hang sâu tăm tối
  143. Cung nữ nhiều như muôn hoa đua nở, chúa xuân (tức nhà vua) không tài nào hái hết, mà chỉ lựa một hai bông ở gần ngài
  144. Cung nữ ví việc mình giành giật vua giật vua như kẻ đi câu chõ vào chỗ những người khác đang câu. Đó là một thực trạng khốn nạn và đắng cay của đời cung nữ. Với các nàng, vua chỉ là một "con cá" bị câu nhử, cách ví von thật mỉa mai!
  145. Ngán thay cái cảnh có ba nghìn con én... cùng chen đậu vào một cây cù mộc. Cây cù mộc: cây cong có dây sắn dây bìm leo (sách cũ), đây chỉ vua
  146. Khoảnh (khảnh): khó tính, hay chê
  147. Một câu thơ rất đắt và gợi cảm, cho ta thấy thực chất trần trụi của một ông vua hiếu sắc, vô đạo
  148. Ở lầu "đợi trăng" (đãi nguyệt) một mình nàng hết đứng lại ngồi trong đêm mưa (dạ vũ)
  149. Ở gác "hóng mát" (thừa lương) một mình nàng khi thức khi ngủ trong gió thu
  150. Phòng tiêu: phòng cung nữ được bôi tiêu trên vách cho ấm
  151. Nàng hờn giận vì bị ruồng bỏ, nên đập vỡ đôi chiếc gương loan (gương của tình yêu xưa), và nàng xé đôi dải thắt lưng "đồng tâm" mà vua trao cho nàng khi trước
  152. Chiều ủ dột: dáng ủ dột. Giấc mai: giấc mộng
  153. Hồn bướm: hồn trong giấc mộng. Trang Chu ngủ mơ thấy mình là con bướm
  154. Thăm viếng nàng chỉ có gió lọt qua cửa, sương gieo vào rèm
  155. Vết xe kiệu ngày nào, giờ rêu phong lỗ chỗ. Phượng liễn: xe hoặc kiệu của vua, có khắc hình chim phượng
  156. Dấu xe dê xưa in hằn quanh co trong đám cỏ
  157. Lầu Tần (vàng son là thế) cũng nhạt nhòa như vẻ mùa thu. Chiều: ở đây mang nghĩa "chiều như", "ra chiều", "mang vẻ", "nhường"
  158. Gối loan: gối thêu chim loan, tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi. Chăn cù: chăn lông chiên.
    Câu thơ này là một trong những câu thơ tiêu biểu cho bút pháp đặc sắc của Nguyễn Gia Thiều. Đó là lối dùng ngoa ngữ, là những câu "kinh nhân", ý thơ và cảm xúc thơ được đẩy tới mức tột cùng. Bút pháp ấy nổi bật ở Cung oán ngâm khúc và ở Hàn Mặc Tử sau này
  159. Suốt ngày nàng mong tin vua, nhưng vắng tăm cánh nhạn (đưa thư)
  160. Giấc cô miên: giấc ngủ cô đơn
  161. Hương hỏa trong im lặng, ngọn đèn như chìm trong tối tăm
  162. Cửa Nghiêm lâu: cửa lầu tôn nghiêm nơi vua ở (mà hằng ngày nàng ngắm từ xa)
  163. Lưu Cầu là xứ gần Nhật Bản, nổi tiếng về sản xuất dao gươm sắc bén
  164. Đoạn thơ này cho thấy cung nữ đã tỉnh ngộ, nhận ra sự phi lý của trời "xe tơ hồng" cũng như thân phận cá chậu chim lồng của mình. Nàng bắt đầu có những ý nghĩ phản kháng
  165. Gối du tiên: sách cũ chép rằng, ở nước Quy Tự có chiếc gối dâng vua, sắc như ngọc mã não, khi gối đầu ngủ thì chiêm bao thấy mình du chơi trên cõi tiên
  166. Đông Quân: chúa xuân, vua tình yêu (ám chỉ vua). Bất tình: vô tình
  167. Cành hoa dưới trăng tàn uất ức nuối tiếc tình xuân
  168. Xuân y: áo chầu triều trong cung vua
  169. Mang bóng đèn lập lòe dưới trăng tà để nhử bọn người sống gửi trên cõi đời này. Ý nói: cung nữ trách tạo hóa đã bày ra cảnh vàng son quyền quý để dụ dỗ nàng vào chốn đoạn trường
  170. Hoa lạc: hoa rụng. Nguyệt minh: trăng tối (chữ "minh" này khác với chữ "minh" nghĩa là "sáng")
  171. Đối với cung nữ, từ đây, khi tình đã mất thì tuyệt nhiên không thể có một cảnh vui nào được nữa.
    Mối liên hệ khăng khít giữa tình và cảnh mà Nguyễn Gia Thiều phát hiện, chính thi hào Nguyễn Du sau này đã học tập để viết nên câu thơ:
    Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
  172. Hương hả: hương đã hả hơi vì để quá lâu không dùng tới
  173. Giọng bi thu: giọng buồn bã của mùa thu. Kẻ cô phòng: kẻ sống cô đơn nơi phòng vắng
  174. Vân mồng: tin tức, tăm hơi
  175. Hơi thê lương: hơi lạnh lẽo và buồn. Song phi huỳnh: cửa sổ đom đóm bay
  176. Khi bóng trăng (bóng thỏ) hiện chênh vênh trước nóc nhà
  177. Vì suốt đêm ngày năm tháng mong ngóng vua tới, nàng đã rơi vào trạng thái hoang tưởng. Nàng tưởng rằng có tiếng tiểu (chú hầu) mang tin vua tới thúc giục nàng mau sửa soạn đón vua
  178. Câu thơ điển hình cho bút pháp thơ làm "kinh nhân" của Nguyễn Gia Thiều. Đó là tột đỉnh của nghệ thuật thơ kim cổ
  179. Quyên: chim cuốc
  180. Điệu thương xuân: giọng thương tiếc mùa xuân (của chim cuốc). Sương khuê: gái góa khuê phòng
  181. Một không khí buồn thương dậy mùi nơi hè đầy hoa rụng
  182. Nơi cung điện màu thúy (xanh pha lục) tiếng cười già quá hóa gắt. Ý nói vì vui thái quá mà hỏng (luật bù trừ)
  183. Ý như câu trên: vì quyền quý thái quá mà rồi phai nhạt tất cả (không bằng người ta cứ giữ thường thường bậc trung).
    Tục ngữ dân gian cũng có câu "trèo cao ngã đau". Và ca dao có câu:
    Càng thắm thì càng chóng phai
    Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu
  184. Hai câu trên có nghĩa: Giá mà nàng biết rằng mình sẽ rơi vào thứ "cửa quyền ôi" (cửa quyền sang trọng nhưng thực ra nguội lạnh, ôi thiu) thì nàng không vội vã lấy vua cho xong
  185. Đeo đẳng: đeo đuổi, trói buộc
  186. Dẫu mua chuộc thế nào cũng chẳng thèm. "Buồn tênh" ở đây nghĩa là "muốn"
  187. Hoa gieo cành: hoa rơi khỏi cành
  188. Cao lương: món ăn sang. Lợm: lợmm giọng
  189. Hoắc, : rau dền, rau diếp, chỉ thức ăn dân dã
  190. Vợ chồng (thường dân) sống yên ấm trong căn nhà nghèo nàn. Hoành môn: cửa có then ngang
  191. Con cái ríu rít như lũ cò con, tình biết bao!
    Cung nữ đã hoàn toàn tỉnh giấc mộng vàng son, và thừa nhận hạnh phúc trong những cuộc đời thường
  192. Dù hay dù dở (cởi hay thắt) nàng cũng chẳng dở dói bày trò đi làm cung phi làm gì. Ỏe họe: giọng hát bội dở ẹc
  193. Mặc lòng nũng nịu nguyệt hoa (với chồng). Dầu: mặc dâu, mặc lòng.
    Cung nữ thực sự thèm khát cái hạnh phúc của tình yêu trong đời sống dân dã
  194. Bóng thỏ: bóng trăng
  195. Vẻ đã tiều tụy càng gầy guộc hơn trước ngọn đèn. Tiêu tao: xơ xác, gầy mòn. : gầy, xọp (mặt võ, võ vàng)
  196. Ca tiều: hát, cười
  197. Cũng như "cười ra nước mắt"
  198. Ngọn lửa lòng thiêu đốt làm cho nét mày liễu phải rầu rầu
  199. Giọt lệ đau thương đỏ như máu thấm bợt làn son trên má. Giọt hồng băng: nàng Tiết Linh Vân có nhan sắc tuyệt vời, bị quan thái thú là Cốc Tập mua bằng nghìn lạng vàng dâng vua Ngụy Văn Đế. Lúc từ biệt cha mẹ, nàng khóc, nước mắt nhỏ vào một cái bình. Sau đó nước mắt nàng đông lại thành băng và có sắc đỏ như máu
  200. Ngay cả những thú cỏn con vô hại cũng trở nên dơ dáng, buồn bã
  201. Trà chuyên nước nhất: nước trà pha lần thứ nhất chưa ngon, nhưng vì quá buồn chán nên nàng không pha nước thứ hai nữa. Hương dồn khói đôi: nàng đốt hương trầm nhiều gấp đôi để mong xua đuổi sự tẻ lạnh ghê gớm
  202. Mặt trời: chỉ vua
  203. Sống mà chia ly nhau nhiều nhất thời có vợ chồng Ngâu (Ngưu Lang - Chức Nữ). Đòi rất: rất nhiều
  204. Hoa trong vườn thượng uyển chỉ thấy có nắng nên làm sao mà không chiều ong bướm?
  205. Dải lạch kia (doành Nhâm) nông cạn là thế
  206. Mà bóng dương (ám chỉ vua) bên ấy, còn nàng thì đứng trông bên này.
    Câu thơ gần với câu Kiều của Nguyễn Du:
    Sông Tương một dải nông sờ
    Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia
  207. Nhĩ mục: tai mắt. Lúc nào tai nàng cũng lắng nghe, lúc nào mắt nàng cũng dõi trông
  208. Phải sống một mình đằng đẵng không tình yêu, nàng vô cùng khát thèm ân ái
  209. Nàng nhớ mãi, mộng mị mãi về một cuộc ân ái hiếm hoi khi xưa. Đoạn thơ này cho thấy tính hiện thực và nhân bản cao độ của Cung oán ngâm
  210. Đoạn thơ này là lời oán trách thống thiết của cung nữ. Đông phong: gió đông, tức chúa xuân
  211. Câu ví von xác đáng với thân phận cung nữ. Cầm: giam cầm
  212. Kim ốc: nhà vàng, chốn phú quý
  213. Nơi thì vua để lạnh lẽo, nơi thì vua cho gần gũi
  214. Trăng già: nguyệt lão, ông tơ
  215. Ý nói vì sao duyên ta lẽ ra tốt đẹp, nay lại hóa ra hẩm hiu?
  216. Khúc sầu tràng: khúc buồn dài dặc
  217. Hoa tịnh đế: chùm gồm hai bông hoa nở trên một đế, dùng trang hoàng trong phòng hợp cẩn, tượng trưng cho đôi lứa
  218. Sao lượng vua lại quyết đoán (chấm dứt tình duyên) nhanh như vậy?
  219. Rún rẩy: rẻ rúng, ruồng rẫy
  220. Sao bõ già (bà già hầu hạ nàng) là người thấu tỏ hết nỗi nàng lại không tâu với vua để vua hiểu?
    Câu thơ cho thấy sự cô độc và thất thế của cung nữ đã tới mức tột cùng: nàng định cầu cứu cả bà bõ già!
  221. Đêm mưa gió một thân lạnh lùng
  222. Giọt ba tiêu: giọt mưa nhỏ xuống tàu lá chuối
  223. Bên tường thấp thoáng bóng đom đóm bay
  224. Đồng ồ đã cạn: đời xưa dùng đồng hồ bằng nước nhỏ giọt
  225. Thời gian trôi nhanh (bóng câu thoáng) đời người được mấy?
  226. Cảnh hương sầu phấn tủi này biết bao giờ cho xong?
  227. Đến phút chót, nàng vẫn còn thoi thóp một hy vọng, có thể lúc nào đó vua lại đến với mình chăng? Và khi đó nàng làm sao tỏ được cho vua thấy rằng nàng vẫn trẻ đẹp, hấp dẫn như xưa? Câu thơ kết thúc gây nên một niềm thương cảm vô hạn đối với số phận của nàng


Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1925, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.