Hoàng trùng trập khởi

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

1. Quái dữ a! Thế-sự gẫm ngán trân, người trong cõi dần lân tân-khổ[1]; Cuộc đời xem lãng nhách, kẻ dưới trần lạch ạch gian-lung[2]

2. Năm giáp-thìn hồng-thủy[3] phát trùng trùng, người thất lạc chẳng còn hoài sự-nghiệp; Cơn ất-tị cào cào sinh điệp điệp, kẻ nông-tang đà hết tưởng điền trù[4].

3. Họa đâu mà họa phát tu du[5]; Tai chi có tai sinh bất cập[6].

4. Gò-công cập điền vi vạn thập[7], mạ đang xanh, lúa đang nở, cắn một hồi bông trái xơ rơ; Khổng-tước giao địa-quản thiên dư[8], cây đang trổ, lá đang đơm, ăn một lát ngọn-ngành trụi-lủi.

5. Người chung cuộc gẫm âu may-rủi; Vật vô tri xét cũng phước-phần.

6. Hay là trời khiến cuộc gian-truân[9]; Hay là trời làm cho bỏ ghét,

7. Ôi! Ghét chi bấy ghét xuôi ghét ngược, hết trận nầy sang trận khác, vậy chớ dân ai sinh ra mà chẳng nghĩ tấm lòng thương; Á! Giận chi mà giận đắng giận cay, rồi nỗi nọ tới nỗi nầy, vậy chớ ai sắm mà không đem lời chiếu cố.

8. Phải tận số thì làm cho ra bề tận số, sống trăm-năm mệt xác, có thầm than thì chắc lưỡi lắc đầu; Phải mãn căn thì làm cho đến kiếp mãn căn, chất muôn tuổi trên đầu, có thương trách lại nặng hơi mỏi cổ.

9. Gặp lúc khổ phải cam lòng chịu khổ, khổ làm sao mà tự gót chi đầu; Nhằm hồi vui ưng để cho vui, vui làm sao mà cắn răng nhăn mặt.

10. Cào cào thật loài trùng rất ngặt, gọi chung-tư thật uổng chữ thánh-hiền; Cào cào là giống độc hằng niên, tri bản-tính thật khinh khi nhân-vật.

11. Kìa như tàm thổ ti[10] phong nhưỡng mật[11], người hãy còn trân-trọng, miệng ăn trôn ỉa mà lợi bủa muôn nhà; Nọ như thước cố thực[12], thử xuyên gia[13] chúng đâu có yêu-vì, mắt ngó mỏ xoi mà hư không đà mấy chỗ.

12. Có chữ rằng: Nhược phục nhất lụ, tu tư chức-nữ chi lao[14]; Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông-phu chi khổ[15].

13. Chớ như bây: Ăn muốn ăn cho tiệt, của ông cha gì sắm-để mà nghĩ tình dãi nắng dầm mưa; Phá muốn phá cho tiêu, vật mồ tổ chi sẵn-dành mà đoái sức cày sâu cuốc cạn.

14. Trăm họ ai ai đều kết oán, giết mỏi tay, rượt mỏi cẳng, giống bây sinh quá lẹ, một đêm rồi coi thế cũng như; Nghìn người ai chẳng bị hư, xô hết sức, đuổi hết hơi, loài bây ở vô nghì, giây-phút lại càng thấy y lệ.

15. Trống thúc mõ hồi đâu kể, bấu đầu ăn ai đói mặc ai; Chà quơ chổi đập chi sờn, đua miệng cắn thế nào thì thế.

16. Thật giống sinh khó dễ; Quả vật phát dị kỳ.

17. Cõi Nam-kỳ mấy tỉnh gian-nguy, vì miệng đó xúm chùm lại hư-hại; Chốn trần-thế muôn nhà đồi-bại, vì miệng bây hùa-hạp phá tan-hoang.

18. Nhọc-nhằn thay! mấy hạt chịu tai-nàn, ôm bụng đói mai đưa chiều rước; Thương-hại ẻ! một niêm đeo bi-thảm, mói lòng trong sớm ngớt tối châm.

19. Bấy nhiêu hồi ruột thắc gan bầm, ngày cực thấu những đêm, thân bao quản gối sương nằm vát; Xiết mấy bữa lưng rùng cánh mỏi, sáng mệt cho đến tối, dạ không cùng ngậm oán trêu hờn.

20. Gẫm nợ đời lúa-thóc ai vay; Mà khiến nỗi ruộng trâu lo trả.

   




Chú thích

  1. Chịu những nỗi cay đắng.
  2. Lúng túng trong vòng.
  3. Hồng-thủy: Nước lớn. Nạn lụt.
  4. Kẻ làm ruộng chăn tằm đà hết tưởng ruộng-nương.
  5. Tu du: Chốc lát.
  6. Tai nạn sinh ra chẳng kịp ngừa.
  7. Ruộng dư muôn.
  8. Cõi Gò-công đất-đai gồm dư nghìn mẫu.
  9. Gian-truân: Vất-vả
  10. Tằm nhả tơ
  11. Ong gầy mật
  12. Quạ tham ăn
  13. Chuột phá hoại
  14. Mặc manh vải tua nhớ đến công cô gái dệt.
  15. Ngày ăn ba bữa, hằng nghĩ nỗi khổ của con nhà làm ruộng.