Nam Hải dị nhân liệt truyện/35

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

VÕ TÁNH[sửa]

Võ Tánh tổ tiên thuở trước là người Phúc An, thuộc tỉnh Biên Hòa, sau dời đến Bình Dương.

Tánh là người khảng khái, trí dũng hơn người, nhà giàu, không chịu thần phục Tây Sơn mới xin với mẹ bỏ của ra chiêu dụ hào kiệt, khởi nghĩa binh ở Phù Viên (thuộc Gia Định) rồi kéo đến Định Tường chiếm giữ Khổng Tước Nguyên (thuộc Tân Hòa), tụ đồ đảng đến hàng vạn người, hiệu là đạo quân Kiến Hòa, tự xưng làm Tổng nhung, hễ quân giặc đi qua đất ấy, thì đánh giết sạch. Quân giặc thường bảo nhau rằng: “Gia Định tam hùng[lxxiv], Võ Tánh là một, chớ có phạm vào mà chết”.

Năm Mậu thân, Tánh đem cả bộ thuộc đến bái yết đức Thế Tổ ở dưới hành tại. Đức Thế Tổ cả mừng, cho Tánh làm Tiền phong doanh khâm sai Tổng nhung chưởng cơ rồi lại gả em là Trưởng công chúa Ngọc Du (con gái đức Hưng Tổ, em đức Thế Tổ) cho.

Khi ấy tướng Tây Sơn là Thái bảo Phạm Văn Tham giữ thành Sài Gòn, Tánh đem quân vây đánh, Tham cùng quẫn xin hàng, dẹp yên được vùng Gia Định.

Năm Quí sửu, Tánh được thăng làm Khâm sai chưởng Hậu quân doanh Bình sơn tham thặng tướng quân, theo đức Thế Tổ ra đánh thu phục Phú An.

Năm Giáp dần, Tánh phụng mệnh trấn thủ thành Diên Khánh (bây giờ là Khánh Hòa). Trần Quang Diệu (tướng Tây Sơn) đem hết cả quân vào vây, Tánh kiên thành cố thủ, khi ấy trong thành thiếu lương, quân sĩ rất kham khổ, Tánh lấy lời trung nghĩa khích khuyến, tướng sĩ đều cố sức đánh, giặc không thể nào phá được. Mùa hạ năm Ất mão, đức Thế Tổ đại cử quân thủy, bộ ra cứu viện. Tánh nghe tin có viện binh đến, thân đốc tướng sĩ đương đêm mở cửa thành ra đánh, quân giặc tan chạy. Đức Thế Tổ úy lạo khen Tánh rằng: “Tên Diệu là kềnh địch mà ngươi hãy giữ vững được thành này, có gặp gió to mới biết được cỏ cứng thật!”. Bèn phong cho Tánh tước Quận công.

Tánh tuổi trẻ, mà lại là bậc thân quí, lập được nhiều công chiến trận, nên có kiêu căng. Tiền quân Tôn Thất Hội thường chê Tánh là người thiển hiệp và bảo rằng: “Cậy mình quí mà không xét đến kẻ sĩ, là lỗi quan Phiêu Kỵ họ Hoắc[lxxviii], nay ngươi có bớt kiêu đi, thì mới giữ trọn được tiếng hay”. Tánh nghe lời cảm tạ, từ đấy nén bớt kiêu khí, đều được lòng tướng sĩ.

Năm Kỷ mùi, Tánh hộ giá đức Thế Tổ ra thân chinh, hạ được thành Qui Nhơn. Đức Thế Tổ vào thành úy lạo, đổi tên là thành Bình Định, lưu Tánh cùng Lễ bộ Ngô Tòng Châu ở lại trấn thủ.

Mùa đông năm ấy, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng lại đem hai đạo quân vào vây Bình Định. Tánh nghe biết thế giặc đương mạnh, chửa có thể đánh được bèn thu quân giữ thành. Đức Thế Tổ nghe tin báo, đại cử thủy, bộ chư quân ra cứu viện.

Tánh kiên thành cố thủ, tùy phương chống chế, quân lịnh nghiêm minh, khích lệ tướng sĩ đều liều chết mà đánh, lớn nhỏ cả thảy hơn vài mươi trận, không thua trận nào.

Hoặc có kẻ khuyên Tánh vượt vòng vây mà lén ra. Tánh không nghe, bảo rằng: “Ta phụng mệnh giữ thành này, thì ta nên thề cùng với thành cùng sống thác. Nếu bỏ thành mà lẩn trốn lấy một mình, thì còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng nữa?”

Khi ấy quan quân đến cứu viện đã non hai năm trời, đánh mãi không tài nào giải vây được. Đức Thế Tổ sai người lặn nước từ cửa bể lẻn vào, bảo Tánh bỏ thành mà ra hội với quan quân, Tánh nhất định xin cố thủ, sai người cầm tờ mật biểu ra tâu rằng: “Nay quân giặc tụ vây cả ở thành này, thì ngoài Phú Xuân hẳn không hư, xin đem quân thừa hư ra đánh lấy Phú Xuân, chẳng khác gì đổi ngôi lấy vàng dẫu chết một mạng tôi, mà đổi lấy được Phú Xuân, cũng phải.”

Đức Thế Tổ được tờ mật biểu, ngài mới quyết ý đem quân do đường thủy kéo ra. Đêm hôm ấy đốt lửa ở núi Độc Sơn làm hiệu, Tánh thấy hỏa hiệu, lại mở cửa thành ra đánh, giết được vài tên tướng giặc.

Khi ấy trong thành hết cả lương thực, quân sĩ phải giết voi, ngựa mà ăn, mà cũng không ai có lòng phản bội gì cả. Tánh sợ rằng thành hãm, thì tướng sĩ chết hại nhiều, bèn đưa thư ra bảo Diệu rằng: “Phận sự ta làm chủ tướng, thì điều liều chết ở dưới cờ. Còn như các tướng sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Lạo bảo các tướng rằng: “Ta uống thuốc độc, nhảy vào lửa, đàng nào cũng chết. Nhưng ta không muốn cho giặc trông thấy mặt, ta đành chết vào lửa mà thôi”. Mới sai quân lấy củi khô chất đầy ở dưới lầu Bát giác, và để thuốc súng vào giữa.

Một hôm buổi sớm, Hiệp trấn Ngô Tòng Châu sang hỏi Tánh xem định kế gì? Tánh trỏ lầu Bát giác mà rằng: “Kế tôi đành chịu thác ở đó mà thôi!” Lại bảo Tòng Châu rằng: “Tôi là võ tướng không lẽ cùng sống với giặc được ông là văn quan giặc nó không nỡ giết nào, nên liệu mà tự toàn lấy mình”.

Tòng Châu cười mà nói rằng: “Dù văn, dù võ, ai cũng một lòng trung ái cả, chớ có phân biệt chi? Tướng quân hay liều mình với nước, tôi lại không hay tận trung với vua hay sao?”. Nói rồi lui về dinh, uống thuốc độc mà chết.

Tánh than rằng: “Ông này lại hơn ta một chước!”, liền thân đến liệm táng cho Tòng Châu tử tế. Cách hai hôm sau, Tánh mặc triều phục lên lầu hội các tướng bảo rằng: “Ta nhờ có các tướng đồng tâm mới giữ được thành mà chống nhau với giặc. Nhưng nay lương cạn, lực cùng, giữ cũng không được nữa, thôi thì ta liều mình thác, chớ không làm khổ tướng sĩ mãi nữa.” Các tướng nghe nói ai cũng thương xót, đứng chung quanh lầu mà khóc. Tánh khoa tay bảo các tướng lui ra, rồi sai Phó tướng Nguyễn Văn Biện châm lửa. Biện cũng khóc mà chạy. Tánh bấy giờ đang hút thuốc lá, lấy tàn ném xuống đống thuốc súng, lửa tức thì bốc lên mà thác. Thống binh Nguyễn Tấn Huyện ở ngoài chạy vào, cũng nhảy vào lửa mà chết theo, hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân dậu.

Diệu đem quân vào thành, trông thấy cũng rỏ nước mắt, sai làm lễ niệm táng tử tế. Còn các tướng sĩ trong thành, không giết hại người nào cả. Nhưng bọn tướng sĩ sau đều lẻn về, không có một người nào chịu ở theo giặc.

Đức Thế Tổ nghe tin Võ Tánh, Ngô Tòng Châu tử tiết, thương khóc than rằng: “Toàn tiết như thế dẫu Trương Tuấn, Hứa Viễn ngày xưa, cũng không hơn được!”

Gia Long nguyên niên, sai lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát giác, truy tặng Tánh làm Dực vận công thần Thái úy Quốc công Châu làm Tán trị công thần Thái tử Thái sư Quận công Huyện được tặng làm Chưởng cơ. Năm Minh Mệnh thứ 12, truy phong Tánh làm Hoài Quốc công Châu làm Ninh hòa Quận công, đều được phối hưởng ở nhà Thái miếu.