Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc thành lập Ủy ban thống nhất của Quốc hội

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Căn cứ vào Điều 57 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,

Căn cứ vào những yêu cầu của cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà,

QUYẾT NGHỊ:

1- Nay thành lập Uỷ ban thống nhất của Quốc hội.

2- Uỷ ban thống nhất của Quốc hội có nhiệm vụ :

- Giúp Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội về vấn đề đấu tranh nhằm thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà và ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam;

- Căn cứ vào báo cáo của Hội đồng chính phủ, nghiên cứu giúp Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội tỏ thái độ, ra nghị quyết, tuyên bố, hiệu triệu, v.v... Về vấn đề đấu tranh nhằm thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà và ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam;

- Ra tuyên bố vạch trần âm mưu của Mỹ - Diệm, cổ vũ đồng bào hai miền đấu tranh chống lại chúng và kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh đó;

- Kêu gọi đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam sống ở miền Bắc ra sức tăng gia sản xuất, hoàn thành kế hoạch Nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

3- Uỷ ban thống nhất của Quốc hội có một Chủ nhiệm, một hoặc hai Phó Chủ nhiệm và một số uỷ viên.

4- Uỷ ban thống nhất của Quốc hội gồm có các vị sau đây :

Chủ nhiệm: Ông Trần Huy Liệu

Các uỷ viên: Ông Trương Quang Giao

Ông Trần Công Tường

Giáo sư Hồ Đắc Di

Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng

Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện

Ông Trần Xuân Bách

Ông Trần Danh Tuyên

Bà Nguyễn Thị Minh Nhã

Giáo sư Phạm Huy Thông

Linh mục Nguyễn Thế Vịnh

Hoà thượng Trần Quang Dung

Ông Triệu Khánh Phương

Ông Nay Phin

Bà Ngô Thị Huệ

Ông Nguyễn Văn Chi

Ông Nguyễn Văn Trấn

Ông Nguyễn Minh Vỹ.


Nghị quyết này đã được Quốc hội nhất trí thông qua ngày 30 tháng 4 năm 1963

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân".