Nghị quyết số 108 NQ/TVQH

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Căn cứ vào điều 53 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;

Sau khi nghe Hội đồng Chính phủ báo cáo về sự cần thiết quy định lại đơn vị chịu thuế nông nghiệp và cách tính thuế cho phù hợp với quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và nhằm đơn giản cách tính thuế,

Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là đơn vị tính thuế, nộp thuế và miễn giảm thuế. Hợp tác xã chịu trách nhiệm nộp cho Nhà nước thuế nông nghiệp về toàn bộ sản lượng thường niên trên diện tích ruộng đất do hợp tác xã kinh doanh và về phần hoa lợi trên diện tích để lại cho xã viên làm riêng. Thuế suất năm 1962 tính bằng thuế suất bình quân năm 1961.

2/ Các nông hộ chưa vào hợp tác xã chịu trách nhiệm nộp thuế cho Nhà nước căn cứ vào sản lượng thường niên trên diện tích ruộng đất cày cấy năm 1962. Việc tính thuế dựa theo thuế suất năm 1961 của các nông hộ đó.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì "Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó" không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm "văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân".