50%

Nhị độ mai/IV

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sổ dâng quán chỉ đại-danh,
Quyển đề họ Mục, tên Vinh vào trường.
Đua tài tỉ thí, khoa hương,
Bảng đầu đã rõ tên chàng Mục Vinh.
Phủ Châu mừng-rỡ linh đình,
1980Hết lòng sắm-sửa tiến Kinh cho chàng.
Chân hề, giong-ruổi dặm tràng,
Đứa đeo thơ túi, đứa mang rượu bầu.
Mấy tuần gióng- giả vó câu,
Tràng-an trông đã thoắt đâu tới gần.
Tớ thầy tìm chốn chứa thân,
Chờ ngày nhảy sóng, đợi tuần hóa long.
Chen vai tài-tử, danh công,
Kẻ toan bẻ quế, người hòng tung mây.
Qui-mô trường-ốc ai xây ?
1990Chia khu thập đạo, rào vây bốn thành.
Ba bề chín cửa thênh-thênh,
Cột huyền bảng thẳng, cây đình liệu cao.
Cậy tài sinh cũng xem sao,
Vũ-môn ba đợt sóng đào xem khinh.
Lại còn một nỗi Xuân-sinh,
Khâu-Khôi đã đổi tính-danh những ngày.
Hà-nam nhập bạ phen này,
Đỗ hương cũng định ngày rày tiến Kinh.
Mấy tuần vừa tới đô-thành,
2000Trời kia xui-khiến hai sinh đỗ đầu.
Cửa Phùng Đô-sát gặp nhau,
Người tầm mẫu-cữu kẻ cầu ân-sư.
Quân hầu vâng dặn vào thưa,
Mời hai sinh hãy ngồi nhà nghênh tân.
Kìa thì Mai, nọ thì Trần,
Bâng-khuâng suốt buổi, tần-ngần giờ lâu.
Khóc than kể hết chuyện nhau,
Hợp tan mấy độ, trước sau mấy từng.
Tỏ-tường chân tóc kẽ răng,
2010Kẻ mừng chị sống, người mừng mẹ yên.
Hay đâu Đô-sát Lạc Thiên,
Chiếu theo chủ khảo cầm quyền chưởng văn.
Biết đâu truyền gọi gia-nhân,
Vâng lời ra quán nghênh tân đón vào.
Phùng công mừng-rỡ xiết bao,
Hai sinh kể hết tiêu-hao chuyện mình.
Ông rằng: "Gác chuyện gia-tình,
Trường-quan, Cống-sĩ có hình hiềm-nghi.
Ra ngoài hãy đợi trường kỳ,
2020Nhờ trời khi dễ việc gì cũng xong."
Hai chàng bái tạ Phùng-công,
Ra chùa Tướng-quốc, trú chung một phường.
Nhân khi vắng-vẻ đêm trường,
Tỏ nguồn cơn trước, kể đường đất xưa.
Mới hay những kẻ tài-hoa,
Bảng vàng trời đã đợi chờ cho ai.
Một phen hội thí đua tài,
Giọng văn tú khẩu, hơi bài cẩm tâm.
Quan trường công-chính không lầm,
2030Khéo thay mực nẩy cân cầm chẳng sai.
Bảng treo trên đã rõ mười,
Mục-Vinh thứ nhất, Khâu-Khôi thứ nhì.
Văn trường đã định nhật kỳ,
Vừa xong thi Hội, lại thi Đình liền.
Thỏa lòng văn nhẹ như tên,
Tài hay có tám, sức lên đến mười.
Ưu phân đáng giá tam khôi,
Mới hay trời có chiều người khi nên.
Phán truyền họ Mục, Trạng-nguyên,
2040Họ Khâu, Bảng-nhãn, hai tên rành rành.
Thiên ân ban trước phong đình,
Ba tuần ngự tửu, hai cành cung hoa.
Hương trời, lộc nước, phấn vua,
Rỡ-ràng bông mãng, lập-lòe vàng đai.
Ba ngày thượng mã du nhai,
Lòng vua ưu hậu mắt người quan chiêm.
Vẻ-vang gấm lại hoa thêm,
Thỏa lòng bẻ quế cung thiềm bấy lâu.
Tân-khoa một lũ trước sau,
2050Cùng sang tướng-phủ vào hầu Lư-công.
Tạ từ ai nấy ra xong,
Mời riêng Bảng-nhãn vào trong rốn ngồi.
Khoản trà lễ mạo hẳn-hoi,
Dập-dìu sớm đã cho mời Hoàng Tung.
Giả điều vua triệu tướng-công,
Khâu, Hoàng ngồi lại vui trong chén quỳnh.
Tung rằng: "Hai chữ khoa danh,
Tướng-công đây những hậu tình quá yêu.
Buồng hương có ả tiểu-kiều,
2060Sàng-đông cũng rắp toan điều cầu thân.
Thôi thì dư thế, dư thần,
Quan sang, chức trọng mười phân đến chàng.”
Khâu-sinh cười nói, thưa rằng:
"Tình người quyến cố xem bằng bể non.
Duyên này đã định tao-khang,
Có đâu phụ nghĩa, tham sang lẽ nào !"
Tung rằng: "Khéo chấp-nê sao,
Xưa nay đổi vợ biết bao nhiêu người ?
Con người sắc nước hương trời,
2070Quá thương khi đã ngỏ lời dễ đâu.
Cạn lòng nếu chẳng nghĩ sâu,
Ăn-năn e nữa đến sau lụy mình."
Sinh nghe mấy tiếng dỗ-dành,
Đùng đùng nổi giận, bất bình khêu gan.
Mắng rằng: "Một lũ quyền-gian,
Nhơ mình chưa chán, lại toan hại người !
Mình đà là phận con nuôi,
Nửa con hòng lại dắt ai vào cùng.
Ta đây một tấm lòng trung,
2080Quyết đem giãi trước mặt rồng có phen.
Thề không dung kẻ lộng quyền,
Vì dân trừ hại mới nên anh tài.
Khéo tay mối-lái cũng đòi,
Vo-ve tiếng Trịnh nhàm tai phượng hoàng."
Nói rồi lên kiệu vội-vàng,
Trở về vừa đến nửa đường nghĩ ra:
"Ăn-năn chút chửa xem cơ,
Thôi thôi ! nóng giận đến ta là cùng.
Lánh đi, nếu chẳng quyết lòng,
2090Chân loan chưa dễ lọt vòng lưới gian."
Bàn riêng hai lẽ vừa an,
Thoắt đà đổi áo thay quan lánh mình.
Chuyện chàng đồn dậy kinh-thành,
Gần xa ai cũng biết tình từ hôn.
Lư-công nổi giận ồn ồn,
Kíp sai binh-mã đổ dồn tìm quanh.
Cách xa mười dặm ngoài thành,
Thấy chàng thoắt đã giao binh điệu về.
Kể khoan, kể nhặt mọi bề,
2100Rằng khinh phép nước, rằng chê lộc trời.
Truyền đem giam cấm một nơi,
Luận xong tội ấy, ngày mai tiến trình.
Trường quan nghe tỏ phong thanh,
Hòng làm sớ tấu giãi tình Khâu Khôi.
Lòng người vốn sẵn lẽ trời,
Mới hay trọng đạo ai ai cũng lòng.
Bấy giờ hội thí vừa xong,
Bốn phương sĩ-tử còn đông Kinh-thành.
Bực mình hai chữ công-danh,
2110Về nhà thẹn mặt, xuất-hành ngại chân.
Tam khôi mừng những đắc nhân,
Nghe tin nhủ-bảo xa gần thiếu ai ?
Họp-hành bàn-bạc mấy lời,
Giận ai ép-uổng, thương người oan-khiên.
Việc này nhẫn-nhục sao yên,
Bè gian rồi nữa lộng quyền đến đâu ?
Lấn cành tầm-gửi chẳng lâu,
Người kia trước, chúng ta sau cũng vừa.
Thôi thì ta lại vì ta,
2120Nhẹ mình nặng nghĩa mới là trượng-phu.
Kẻ rằng xin chớ hồ-đồ,
Đón đường ta sẽ sửa cho một hồi.
Làm cho gian-đảng đi đời,
Hãy khoan văn-bút, thử chơi vũ-bài.
Ở đâu bỗng có một người,
Thưa rằng : "Chuyện ấy xin người chớ nghi.
Phỏng mà có đến lẽ gì,
Đầu đoàn chuyện ấy, em thì xin đương.
Vả em chút phận lỡ-làng,
2130Tên thi vừa hỏng, tư lương cạn rồi.
Về nhà thân-thích không ai,
Xin liều thân ấy, cứu người khôi-khoa."
Được lời như mở lòng ra,
Kéo nhau một lũ vào tòa Phùng-công.
Lạy rồi thưa hết thỉ-chung,
Ông vừa thảo sớ để hòng vào tâu.
Khen rằng: "Sao khéo bảo nhau,
Việc là việc nghĩa, lẽ đâu bảo đừng.
Chỉn e tai vách mạch rừng,
2140Làm cho kín mít như bưng mới là."
Vâng lời ai nấy trở ra,
Hẹn nhau chừng nửa canh ba đón đường.
Xin cho bắt được Lư, Hoàng,
Đừng phân trái phải, hãy toan đánh đòn.
Rày đừng vây cánh cha con,
Gian mưu đứt nọc, xảo ngôn hết nghề.
Đã đành tội hữu sở qui,
Rồi ra, ra đến những gì thì ra.
Kẻ rằng: "E lũ chúng ta,
2150Người gần còn có người xa ngại-ngùng.
Xin về một chốn trú chân,
Nhà tôi trọ đấy cũng gần ngọ-môn.
Buổi triều xe ngựa ồn ồn,
Tiện đường đón đấy, nghĩ khôn lên trời."
Cùng nhau miệng nói chân dời,
Sẵn nhà cùng ở một nơi đợi chờ.
Lặng nghe canh đã sang ba,
Kiệu đâu một lũ trông ra ngoài trường.
Phùng-công kiệu trước thét đường,
2160Kiệu sau Đảng Lục với chàng tân-khoa.
Bảo nhau hai dãy dẹp ra,
Kiệu đâu sao thấy xa xa đến liền.
Tiền hô hậu ủng chật lèn,
Phủ Lư mới tỏ hiệu đèn là đây.
Hai bên chực sẵn đã đầy,
Kẻ trần tay áo, người xoay cánh đoài.
Người bẻ lọng, kẻ giằng roi,
Ầm ầm hơi giận, hồi hồi tiếng la.
Xúm quanh trước kiệu hỏi qua :
2170Khâu Khôi, Bảng-nhãn tân-khoa tội gì ?
Quyền như chú, chắc mạnh bè,
Vu oan cho kẻ trung-nhì được chưa ?"
Bốn bên trận đánh như mưa,
Xé tan xương nịnh, ngay đờ mặt gian.
Trận đòn hội chợ ai can ?
Bướm bay giấy lọng, kiệu tan lũ hầu.
Hoàng Tung kiệu đã đến sau,
Người kéo tóc, kẻ giằng đầu, xúm quanh.
Mảnh xiêm mảnh mãng tan tành,
2180Tối-tăm mắt nịnh thất kinh hồn tà.
Mới hay nhất quỉ nhì ma,
Học trò đến bực thứ ba thực là.
Người kêu dưỡng-tử cứu cha,
Kẻ kêu nghĩa-phụ, ân-gia cứu mình.
Tưng tưng trời mới bình-minh,
Đường hoàng ngự trước, phong đình phân-ban.
Lư, Hoàng thoát khỏi vòng oan,
Bưng đầu theo lũ bách-quan vào quì.
Gượng đau lạy trước đan-trì,
2190Áo tươm-tướp rách, mặt bì-bì sưng.
Khóc than rền-rĩ tâu rằng:
"Khâu-Khôi hôm nọ tự dưng bôn đào.
Bắt về chưa kịp tâu vào,
Hai quan chủ khảo sắp mưu hại người.
Họp hàng sĩ-tử một nơi,
Đón đường, đánh đánh, lôi lôi một hồi.
Cao minh xin tỏ đèn trời,
Tra người vô phép, hỏi người mưu gian."
Phán rằng: "Ngươi hãy ngồi an,
2200Còn tra dù thực, du gian rạch ròi.
Chỉ đòi Phùng, Đảng hai người,
Làm sao tâu thực mấy lời được hay."
Tâu rằng: "Chút phận hèn ngây,
Dám cho được dự khoa này chưởng văn.
Đêm ngày lo-lắng trăm phần,
Di tài những sợ, đắc nhân là mừng.
Gieo cho những tiếng hay chăng,
Xét soi nhật nguyệt đôi vầng xin thương.
Phường thi hỏng, với quan trường,
2210Còn chi tình diện toan đường giao-thông.
Chực ngoài lũ ấy còn đông,
Dám xin tra thấu thỉ-chung được nhờ,"
Tiếng vàng sang-sảng ban ra,
Đòi vào sĩ-tử hỏi qua tình đầu.
Bắt vào một lũ theo nhau,
Dưới sân kẻ trước, người sau lạy quì.
Phán rằng trong chốn trường-qui.
"Làm điều bất pháp tội thì tại ai ?"
Muôn tâu: "Hổ phận bất tài,
2220Tranh lèo, giật giải,nhường người quyết khoa.
Nghĩ trong tảo-vấn cũng là,
Bằng bay, côn nhảy còn chờ hội sau.
Phép vua, lời thánh để đâu ?
Tay cầm bìa sách, dám hầu phi vi ?
Việc này lắm mối gian-khi.
Dám xin tâu dưới đan-trì đầu đuôi :
"Khoa này Bảng-nhãn Khâu-Khôi,
Bậc người khoa giáp, vẻ người phong-lưu.
Hôm xưa Tướng-phủ mời vào,
2230Khoe con má phấn, ướm trao chỉ hồng.
Tân-khoa một mực rằng không,
Dám tham phú-quí, phụ lòng tao-khang.
Tâng công bởi tại họ Hoàng,
"Quyết đường ép-uổng, xui đường phân chia.
Sợ vì phép, khiếp vì uy,
Tân-khoa mới phải tìm đi lánh mình.
Nào còn dám tưởng công-danh,
Lư-công biết thóp sai binh nã về.
Làm cho bỏ lúc từ qui,
2240Vu cho phi pháp toan bề tâu gian,
Chúng tôi cả quyết làm đơn,
Muốn vì Bảng-nhãn lo toan giãi bày,
Nào ngờ tướng-phủ đã hay,
Canh khuya đuổi đánh toan bày mưu gian.
Làm ra vò mũ, xé tàn,
Cào mình, rạch mặt, vu oan cho người."
Ngự nghe thấu hết đầu đuôi,
Lư, Hoàng khi ấy những lời tâu sai.
Phán rằng: "Những chúng vô loài,
2250Thương con, kén rể, bức người ép duyên"
Lư tâu rằng: "Việc nhỏ-nhen,
Tình riêng nhi-nữ lọ phiền hỏi-han ?
Chàng kia vô phép khi quan,
Lũ kia đấu ẩu xin ban nghị hình."
Ngự nghe thấu hết mọi tình,
Tức thì nổi giận lôi-đình bởi đâu.
Phán rằng: "Gian-đảng họp nhau,
Dối trên hại dưới bấy lâu thông đồng.
Thử xem lòng lại hỏi lòng,
2260Thẹn chưng mũ áo, hổ cùng cân đai.
Nhàm tai, chẳng nói chi dài,
Giao Tam-pháp nghị, rạch-ròi sẽ tâu.
Phùng-công Đô-sát làm đầu,
Thứ nhì Đại-lý, đến sau bộ Hình.”
Ba tòa ngồi trước cung-đình,
Nha-môn chực dưới, long-đình đăt trên.
Kia thì bị nọ thì nguyên,
Một bên sĩ-tử, một bên Lư, Hoàng.
Nọc roi sắp sẵn hai hàng,
2270Sai vào ngục-viện đòi chàng Khâu-Khôi.
Phùng-công dạy trước mấy lời:
"Chào Lư Thái-phó đầu đuôi đồng từ !"
Tư công nói hãy lờ đờ:
"Tôi cùng ba bác có là người đâu ?
Tờ bồi ráo-riết chi nhau,
Rồi ra, tình diện về sau còn dài."
Quan rằng: "Nói cũng lạ đời,
Tình trong đã vậy, lý ngoài làm sao ?
Ép duyên sai bắt thế nào ?
2280Việc rành-rành, phải đem vào lời cung."
Lư rằng: "Việc ép thì không,
Con đây chưa dễ sàng-đông thiếu người ?
Còn như chuyện bắt Khâu-Khôi,
Xưa nay quen vẫn làm rồi mới tâu."
Ông rằng: "Binh sự là đầu,
"Đạo làm thần-tử, dám hầu tự chuyên ?
"Khi quân tội ấy đã nên,
Lại còn nhắc chuyện lộng quyền vi phi.
Bá Cao chết tại tội gì ?
2290Đông Sơ bỏ ngục tội thì tại ai ?"
Lư rằng: "Sao kể đường dài,
Hãy cho xong án Khâu-Khôi đã mà !
Bá Cao với lại Đông Sơ,
Tội làm trở đậu quân-cơ bấy giờ.
Trọng khinh bởi chữ lượng vua,
Như đây có dự chi mà can liên."
Ông rằng: "Liệu đấy mà xem,
Nếu còn già miệng thì nên mất lòng!"
Còn đương tra hỏi chưa xong,
2300Trông ra đã thấy quan trong, họ Hoàng
Đem vào đặt trước sảnh-đường,
Long-côn một chiếc, niêm hoàng một chương.
Ba tòa tiếp chỉ vội-vàng,
Mấy lời ỏn-ẻn họ Hoàng đã thưa:
"Này đồ phụng chỉ ban ra,
Sao cho tận pháp mới là công minh.
Già tay xin chớ ngại tình,
Phen này hai mạng súc-sinh đi đời."
Phùng-công hỏi thử mấy lời,
2310Rỉ tai Hoàng mới khúc-nôi kể bày.
Thưa : "Rằng tôi đã tỏ đây,
Đông-cung nghĩ chút đạo thầy, toan bênh.
Mặt rồng nổi giận lôi đình,
Buộc công-pháp lại, gác tình riêng ra.
Thôi ! thì trời cũng chẳng xa,
Xưa nay hãm-hại người ta đã đầy."
Nói rồi mắm miệng, day tay,
Trông Lư Kỷ, lại rút giày ném theo.
Hung-hăng mắng ít, nhiếc nhiều,
2320Còn the-thé giọng, toan điều nọ kia,
Phùng-công khêu-gợi tỉ-tê;
"Bố mầy dường có thù gì với ai.
Tội đâu có phép đấy rồi,
Can chi mà cứ xơi-xơi nhọc mình."
Mặt còn men-mét xám xanh,
Được lời, Hoàng mới kể tình xa xưa:
"Rằng tôi có chút cháu nhà,
Lỵ Giang-tây đạo tên là Thái Câu.
Chứng oan mắc phải mưu sâu,
2330Cũng vì thanh giản lấy đâu nhân tình ?
Giặc Hoàng-Thổ trấn dấy binh,
Án thông phỉ ấy, đã dành cho ngay.
Kiến bò miệng chén mau thay,
Mưu kia đã lắm, vạ này cũng thâm.”
Họ Hoàng quen thói thâm-trầm,
Ngoài thơn-thớt miệng, trong tâm-ngẩm lòng.
Cắm gần sẵn có roi đồng,
Dang tay đã diệt Hoàng Tung một hồi.
Bước ra còn nói mấy lời :
2340"Đại-nhân, xin xét một hai cho cùng."
Ông rằng: "Phải việc nói không,
Lòng người là sắt, phép công là lò.
Bây giờ còn dám quanh-co,
Truyền đòi Hình-bộ, hãy cho giở nghề."
Dạ rân sát-sạt xa nghe,
Đỉa, giăng thẳng nọc, đuối, vì-vụt roi.
Một sân thịt nát, xương rơi,
Ngất đi một lúc, lại hồi mấy phen.
Lư, Hoàng biết thế khôn kiêng,
2350Xin khoan roi, để việc liền chiêu ra.
Mai, Trần hai án ngày xưa,
Khôi-Khâu một án bây giờ, chịu đoan.
Ba tòa một mực truyền ban,
Sai nghiên-bút, lấy cung đoan mấy tờ.
Phùng-công truyền phó canh giờ,
Rồi xem án tấu, đợi chờ xử phân.
Kíp về tư thất dời chân,
Mời chàng Mai với chàng Xuân dặn dò.
Trời đà chứng kẻ oan vu,
2360Trừ gian, may lại phục thù có cơ.
Mặt rồng gang tấc không xa,
Giãi tình oan khuất, họa nhờ thiên-ân.
Vâng lời dặn-dỗ ân cần,
Hai chàng thảo sẵn sớ-văn hai bài.
Buổi triều vừa rạng ngày mai,
Hơn trăm sĩ-tử chực ngoài hành-lang.
Phùng-công tâu án Lư, Hoàng,
Phân-minh trạng chỉ, rõ ràng tờ cung.
Đường hoàng xem hết thỉ-chung,
2370Phán rằng: "Gian-tặc thông đồng bấy nay.
Bá Cao oan-uổng thương thay !
Đông Sơ bỏ ngục, nào hay tội gì ?"
Cửu-trùng hạ chỉ tức thì:
"Họ Trần tha tội, lại về chức xưa.
Mai-công oan khuất xót-xa,
Chẳng hay con cái bây giờ còn ai ?"
Phùng-công tâu trước mấy lời :
"Chuyện này chân, giả đèn trời xin soi.
Trạng-nguyên ấy thực họ Mai,
2380Mà Khâu Bảng-nhãn hẳn-hoi họ Trần."
Phán rằng : "Một cửa trung-thần,
Truyền cho hai gã vào sân đan-trì."
Lễ rồi, trước điện đều quỳ,
Bạch oan sẵn sớ tức thì dâng lên.
Vua Đường xem hết sự duyên,
Phán rằng: "Tung, Kỷ hại liền bấy lâu.
Truyền đem chính-pháp bêu đầu,
Trạng-nguyên Bảng-nhãn đứng đầu hai bên.
Ban cho phục họ, phục tên,
2390Cao minh muôn đội ơn trên chín lần.
Suy ra mới biết trời gần,
Chính-tà một bụng, quỉ-thần hai vai.
Gian-thần chưa chắc nẩy chồi,
Núi băng khi thấy mặt trời hẳn tan.
Trung-trinh dẫu có mắc oan,
Vẫn trơ cây cứng, không chồn gió lay.
Về sau ngay lại ra ngay,
Khỏi tuần hoạn nạn, đến ngày hiển-vinh.
Lư, Hoàng thực đã đáng tình,
2400Đem ra chính-pháp hành-hình một giây.
Tan-tành thịt nát, xương bay,
Nắng bêu mặt nịnh, đất rây máu tà.
Chán lời kẻ lại, người qua:
"Bây giờ thế ấy thuở xưa thế nào ?"
Trần-công ra khỏi thiên-lao,
Ngọ-môn chực sẵn đã vào tạ ân.
Phùng-công mừng-rỡ cố-nhân,
Mời về tư-thất ân-cần thở-than.
Rể con sum-họp một đoàn.
2410Người than chuyện trước, kẻ bàn nỗi xưa.
Nhớ-nhung kẽ tóc chân tơ,
Gian-nan là mấy, nương-nhờ những đâu ?
Bao nhiêu tân khổ bấy lâu,
Giật mình đòi lúc, lắc đầu đòi phen.
hi nên mọi việc mọi nên,
Chiếu trời đâu đã tốc truyền tới nơi.
Định ngày ngự tế họ Mai,
Phong làm Thái bảo dựng bài liệt-trung.
Trạng-nguyên với lại Trần, Phùng,
2420Ban quyền Học-sĩ dự phần yếu thanh.
Còn như Bảng-nhãn Xuân-sinh,
Làm Đô-ngự-sử, quyền hành hạch tâu.
Họ Trần, họ Đảng, họ Khâu,
Trật gia tam cấp đợi sau kén dùng.
Vợ Mai-công, vợ Trần-công,
Lại cùng Trần Hạnh, lại cùng Vân Anh.
Phu-nhân nhất phẩm cực vinh,
Khen cho chữ nghĩa, chữ trinh một nhà.
Vân Tiên với lại Ngọc Thư,
2430Phẩm đề đệ-nhị, cũng là phu-nhân.
Mai-công khai táng đến tuần,
Hoàng-thân tế điện, triều-thần trợ nghi.
Trạng-nguyên nhân tiện đường đi,
Duyên đồ hộ-tống, về quê châu Thường.
Lại ban tuần-thú bốn phương,
Ấn vàng một quả, kiếm vàng một thanh.
Một mình quyền được tiện hành,
Thẳng tay nẩy mực, công bình cầm cân.
Lại cho về việc đại tuần,
2440Hoàn-hôn ngự tứ nghênh thân một ngày.
Lắng tay rõ chiếu năm mây,
Hai chàng vào trước, lạy bày tạ ân.
Xem ngày ngự tế đã gần,
Cho tin báo trước tăng-nhân dọn chùa.
Trạng-nguyên mặc áo thôi-ma,
Trước vào lễ phật, sau ra tảo phần.
Điển-nghi khắp mặt triều-thần,
Một tờ dụ-chỉ, ba tuần rượu hoa.
Cột kết thái, trướng rủ là,
2450Đèn gần chong sáp, đỉnh xa bay trầm.
Trống tam nghiêm, nhạc bát âm,
Mấy mâm sinh lễ mấy mâm tư thình.
Sống trung-liệt thác anh-linh,
Suối vàng thơm phách, mây xanh thỏa hồn.
Đã đành trung hiếu nhất môn,
Ơn vua nhuần gội, tiếng con rỡ-ràng.
Tế rồi linh-cữu lên đường,
Trạng-nguyên lĩnh ấn, gươm vàng ra đi.
Tạ ân vào trước tâu quì:
2460"Việc công đâu dám bận vì tình riêng.
Tưởng khi lánh nạn băng miền,
Theo chân cậy có một tên Hỉ Đồng.
Nghĩ trong thầy tớ xét công,
Mấy cơn nguy-hiểm, mấy vòng gian-nan.
Tìm vào nhạc-phụ Hầu Loan,
Hay đâu cùng với quyền gian một lòng.
Cũng toan bắt nộp lấy công,
Giả hình khi ấy Hỉ Đồng đỡ thay,
Rày nhờ rộng bước đường mây,
2470Ngậm-ngùi đạo tớ, nghĩa thầy chưa quên.
Móc mưa xin tưới cửu-tuyền,
Gọi là tinh-biểu để đền chút công."
Vua Đường nghe hết thỉ-chung,
Khen rằng tiết nghĩa hiếu-trung một nhà.
Của kho ban dựng miếu thờ,
Chức ban Thất phẩm gọi là tặng phong.
Tạ từ năm lạy đền rồng,
Trở ra rước cữu Mai-công xuống thuyền.
Tiễn đưa xe ngựa như nêm,
2480Trống ran mặt đất, cờ liền bóng sông.
Đồ hiếu-sự vẻ quân-dung,
Sông lồng giới-trượng gió tung biển-kỳ.
Đến đâu quyền được tiện nghi,
Một tay thưởng-phạt hai bề công-minh.
Lần lần gió mát trăng thanh,
Thuyền đà tới phủ Đại-danh bao giờ.
Một vài thầy tớ lên bờ,
Dân tình lại tệ, giả vờ, hỏi chơi.
Khác hình ai biết là ai,
2490Đi lần bỗng thấy một nơi có chùa.
Cửa ngoài thấy có niêm tờ,
Phủ-nha nghiêm cấm kẻ ra người vào.
Nghĩ riêng chưa biết làm sao,
Xưa nay cửa bụt dễ nào hẹp ai ?
May sao gặp lúc vắng người
Dời chân sẽ lẻn vào nơi hậu đường.
Thấy trong thờ-phụng một giường,
Trông lên bài-vị rõ-ràng Lư-công.
Thái-sư chức tước đề trong,
2500Chữ "Hầu Loan phụng" một dòng đề bên.
Cầm tay cất lấy về liền,
Cười rằng cấm cách nhân-duyên thế này !
Về thuyền, quân đã sắp bày,
Vào tòa sát-viện sai ngay đi đòi.
Nghe quan Tuần-phủ đến nơi,
Hầu Loan mình đã bồ-hôi ướt nhè.
Mấy lời truyền hỏi xa nghe:
"Viên kia có mất của gì biết chưa ?
Đồn rằng có ả tiểu-thư,
2510Đông-sàng ngôi ấy bây giờ là ai ?"
Loan nghe chưa hết đầu đuôi,
Rung rung sợ sợ, mở lời không ra
Thưa rằng: "Có chút gái thơ,
Mấy năm trước đã chơi xa suối vàng.
Chức ti phận tiểu tầm thường,
Chẳng hay thượng-hiến, sao tường duyên-do.
Đến mừng chậm-chạp già nô,
Dám xin thượng-hiến thứ cho được nhờ."
Quở rằng: "Lộc nước ơn vua,
2520Còn lo thất hiếu mà thờ họ Lư !
Cả gan còn dám quanh-co.
Chứ thì bài-vị sau chùa tên ai ?
Nghi-trưng những chuyện mới rồi,
Bấy giờ bắt nộp họ Mai, công gì ?
A-dua chắc những mạnh bè,
Ai hay quyền ấy lại về tay ai ?"
Ruổi mau lệnh-tiễn kỳ-bài,
Đem ra chính-pháp, răn người vô lương.
Oai trời một lưới tứ phương,
2530Rung gan đảng nịnh, ghê xương lũ tà.
Gần gần đã thấu tin nhà,
Châu-công đã khiến người ra đón mời.
Quan quân sắm-sửa tơi bời,
Cờ giăng nhất tự, trống hồi tam liên.
Biển vàng "Tuần-thú đại thiên",
Một bên bảo-kiếm, một bên lệnh bài.
Phủ Châu thoắt đã tới nơi,
Châu-công ra đón cửa ngoài mừng vui.
Phấn vua rạng vẻ cân đai,
2540Hà-nam gia-khách vẫn người ngày xưa.
Quan cựu lại, bực tân khoa,
Tình nhạc-phụ, nghĩa ân-gia vuông tròn.
Tiệc rồi giãi chuyện hàn-ôn,
Gấm chen vẻ quí, rượu ngon giọng tình.
Sinh rằng: "Nhờ phận khoa danh,
Quốc-gia ơn rộng, môn-đình thơm lây.
Chiếu trời đã tỏ năm mây,
Xong tuần đại thú, đến ngày nghênh thân.
Khâm kỳ nghe đã gần gần,
2550Một nhà xin liệu, định tuần lai Kinh."
Bước vào làm lễ gia-đình,
Tạ từ sinh đã khởi trình trẩy ra.
Tình cố-hữu, nghĩa thông-gia,
Ông đà sửa lễ, cho đưa theo thuyền.
Xuôi dòng nước chảy như tên,
Buồm giong thoắt đã tới miền Thường-châu.
Gieo neo kề bến mã-đầu,
Sửa-sang nhà trước, vườn sau mấy tuần.
Cho tin đi đón mẫu-thân,
2560Sơn-đông nhà cậu cũng gần chẳng xa.
Mấy ngày bà đã tới nhà,
Ruột dò chín khúc, lệ sa đôi hàng.
Vật mình lăn trước linh sàng,
Khúc oan kể-lể, nỗi thương ngậm-ngùi.
Nhìn chàng, than thở mấy lời,
Nghĩa sâu mẫu-tử, tình dài biệt ly.
Ôm quan khóc-lóc nằn nì,
Nghĩa phu-phụ những nặng vì nước non.
Thảm chồng thôi lại mừng con,
2570Thức cười nước mắt, ngủ hồn chiêm-bao.
Sinh rằng: "Chín chữ cù-lao,
Bể sâu mấy trượng, trời cao mấy trùng.
Bấy lâu nam bắc tây đông,
Bước chân xa cách, tấc lòng quặn đau.
Trời cho rày được tụ đầu,
Nợ xưa nhẹ gánh, phúc sau đền phần.
Con vâng vương-mệnh tại thân,
Vinh qui, hối táng,đại tuần, một phen.
Rồi đây táng tế cho yên,
2580Mẫu-thân xin rước xuống thuyền lai Kinh.
Chẳng lâu con cũng khởi-hành,
Trước lầu ngữ phượng đại thành lễ thân."
Mấy ngày táng sự đến tuần,
Đã tìm đất tốt phong-thần một nơi.
Chiếc bia "trung-liệt" dựng ngoài,
Đá xanh tạc lấy được ngày treo trên.
Thành phần nóc rạp kéo lên,
Ba vòng giáo dóng, hai bên thái kỳ.
Tầng trong bày-đặt uy-nghi,
2590Ngậm tăm hơi miệng, kéo rề bước chân.
Tiêu thiều nhã nhạc xa gần,
Tam huyền nhịp-nhặt, song vần tiếng khoan.
Đồ điếu-phúng, lễ ngự ban,
Mấy mâm ngũ-thục, mấy bàn tam-sinh.
Chữ vàng đề trước minh-tinh,
Đường-triều Thái bảo chính danh rõ-ràng.
Quan quân tiễn kiệu kéo hàng,
Hạ-liêu mấy lũ, bộ đường mấy ban.
Trạng-nguyên đi trước phù-quan,
2600Phu-nhân nối kiệu buông màn phương-du.
Lập lăng mấy gốc tùng-thu,
Một vùng sảng-khải đắp mồ ngưu-miên.
Bấy lâu táng lễ vừa yên,
Phu-nhân đã giục xuống thuyền đi Kinh.
Trạng-nguyên cứ việc tuần hành,
Nghi-trưng vừa mới nhật trình tới ngay.
Lạ quen cũng một miền này,
Sao xưa trốn-tránh mà rày hiển-dương ?
Thoảng qua sực nhớ mọi đường,
2610Chợt lòng lại động tấm thương Hỉ Đồng.
Tra ra tri-huyện Sử-công,
Môn-sinh Lư Kỷ cũng vòng quyền gian.
Sá chi mọn mảy xẻ đàn,
Nhiêu cho tính mệnh lại hoàn thứ-nhân.
Công-lênh nhớ đến Đồ Thân,
Cho làm huyện lệnh đền ân tấm lòng.
Bắc môn ghi mả Hỉ Đồng,
Dựng bia đá, lấy sắc phong tạc liền.
Lại truyền sửa rạp một bên,
2620Trước mồ tế điện một phen thân hành.
Khóc than kể hết mọi tình:
"Có công-danh ấy vì mình chớ ai.
Vì ta trót đã thiệt đời,
"Đền công, ta cũng nhớ lời khấn xưa."
Băn-khoăn đường đất cách xa,
Giao Đồ Thân, tự bấy giờ giữ coi.
Phỏng sau kế tự còn dài,
Họ Đồ nhường lại một người họ Vương.
Gọi là phụng tự khói hương,
2630Ấy là tròn hết mọi đường thỉ-chung.
Đồ Thân vâng dạy ghi lòng,
Đem con bèn cải Hỉ Đồng họ Vương.
Lại tìm đến chốn phật đường,
Truyền đem áo tía xe vàng nghênh sư.
Tái sinh may có ơn xưa,
Khấu đầu bách bái tạ thưa mấy lời.
Chàng từ ân oán rạch-ròi,
Cất không gánh nặng, tát vơi bể sầu,
Tuần-hành mọi chốn đâu đâu,
2640Trong lòng phép nước, trên đầu ơn vua.
Công không sót, tội không tha,
Phân hào chẳng lẫn, tóc tơ nào lầm.
Mấy phen mực nẩy, cân cầm,
Trong veo lại tệ, nổi bồng dân ca.
Lần lần đông lại xuân qua,
Một vòng tuần-thú tính đà khắp quanh.
Định ngày phục mệnh lai Kinh,
Sớ-văn một tập, hiện thành tâu lên.
Chín lần đã động tiếng khen,
2650Tấc lòng công chính, mấy phen nhọc-nhằn.
Trên vì nước dưới vì dân,
Ban cho cực-phẩm Tể-thần đền công.
Truyền Khâm-thiên-giám hội-đồng,
Chọn ngày đại-cát động phòng nghênh thân.
Trạng-nguyên thay áo Tể-thần,
Dưới thềm năm lạy tạ ơn khấu đầu.
Nhàn chơi lui tới thiếu đâu,
Phủ Trần đi lại, phủ Khâu ra vào.
Trời xuân minh mị thế nào,
2660Lưỡi oanh ríu-rít, bông đào so le.
Phượng lâu sắp sẵn lễ nghi,
Khâm-thiên đã định nhật kỳ tư tra.
Tháng ba vừa bữa mồng ba,
Là ngày hoàng-đạo, là giờ thiên-ân.
Xiết bao khí ngoạn kim-ngân,
Phủ Mai lĩnh trước, phủ Trần lĩnh sau.
Bạc, vàng, ngà, ngọc, thiếu đâu,
Cung-hương, mã-não, minh-châu, mấy bàn.
Rỡ-ràng phẩm phục mới ban,
2670Mãng-bào hai bộ, hoa-quan bốn tòa.
Hôm sau vừa rạng mồng ba,
Cao cao lầu phượng, xa xa mặt rồng.
Ngai vàng thăm-thẳm bên trong,
Bách quan văn-võ hội đồng bấy lâu.
Trạng-nguyên trước, Bảng-nhãn sau,
Yết câu vạn tuế, khấu đầu lạy xa.
Ban cho ngự tửu, cung-hoa,
Hai yên ngựa trước, bốn tòa kiệu sau.
Trước sau phân đạo ruổi mau,
2680Phủ Trần nhộn nhịp, phủ Châu linh-đình.
Thiếu gì vẻ quí màu thanh,
Rỡ-ràng kết thái, rập-rình trương đăng.
Hai bên tiếp đãi tưng-bừng,
Nhạc râm-rỉ vỗ, hương lừng-lẫy xông.
Khéo là thu-xếp cũng thông,
Châu-công đã hợp Trần-công một nhà.
Mai-sinh lạy bốn ông bà,
Bên là công đẻ, bên là công nuôi.
Vân Anh, Trần Hạnh hai người,
2690Cung-trang sắm-sửa cùng ngồi kiệu hoa.
Bên kia Khâu-phủ xa xa,
Xuân-sinh gióng ngựa cũng vừa tới nơi.
Ông bà Khâu-thị cùng ngồi,
Chàng vào tám lễ, lễ rồi bước ra.
Giường bên bốn lạy Ngư-bà,
Tình là bán tử, nghĩa là tái sinh.
Vân Tiên, Châu Ngọc sắm-sanh,
Kiệu đà ghé bến trước bình cùng lên.
Vừa xong lễ sính đôi bên,
2700Trước sau một lũ kéo liền thẳng giong.
Trạng-nguyên ngựa trước song song,
Khác nào như thể cỡi rồng lên tiên,
Ngựa sau Bảng-nhãn theo liền,
Giải đào chân để, nệm sen mình ngồi.
Rườm-rà chân chỉ hạt trai,
Vàng suy miệng hậu, cừ nhồi mã yên.
Nối sau bốn kiệu kéo liền,
Tám đòn nhận ngọc, bốn bên buông rèm.
Liễu-hoàn, chị chị, em em,
2710Chạy gần che quạt, theo chen ôm lò.
Kiệu hoa nhẹ bước từ từ,
Kiệu theo ngựa trước, ngựa chờ kiệu sau.
Vòng ngoài nhộn-nhịp quân hầu,
Ngửa trông đã thấy phượng-lâu dưới thềm.
Khen rằng sáu gã thanh-niên,
Trai tài gái sắc, hai bên kịp thì.
Thơ đào ngợi chữ vu-qui,
Ban thêm châu ngọc cho về thành thân.
Đôi tài-tử, bốn giai-nhân,
2720Phủ Mai bài trí, phủ Trần sửa-sang.
Đuốc hoa, màn gấm, sẵn-sàng,
Định ngôi gửi rể, chia buồng đông tây.
Rượu mừng mặt, lễ bắt tay,
Nơi vui bàn ngọc, nơi vầy cuộc tiên.
Rạng mai vào lễ thánh tiền,
Ban cho bồi yến ngự diên hai chàng.
Thiên-nhan gần gũi tấc gang,
Nến hoa đối mặt, chén vàng trao tay.
Tiệc vui chầu-chực tối ngày,
2730Lại ban ngự-chức đưa ngay đến lầu.
Dần-dà cách mấy đêm sau,
Ban đòi tân phụ vào chầu từ cung.
Bốn nàng dự yến đền trong,
Ân vua gội thấm, tiếng chồng thơm lây.
Rồi ra yến-ẩm mấy ngày,
Khi vui Mai-phủ, khi vầy Trần-gia.
Mời nhau lần-lượt tiệc hoa,
Thôi bên Trần-thị, lại tòa Khâu-công.
Phong-lưu phú-quí cùng chung,
2740Bõ ngày truân-hiểm, bõ công sách đèn.
Hai tài-tử, bốn thuyền-quyên,
Tiếng người mới, vẫn người quen bao giờ.
Dàn trước gió, rượu bên hoa,
Câu thơ trong tuyết, cuộc cờ dưới trăng.
Xướng tùy đều giữ đạo hằng,
Một nhà hảo-hợp dễ chăng mấy người.
Có phen ôn chuyện trùng-đài,
Có phen nhắc chuyện thoa rơi nực cười.
Có phen nhắc chuyện lôi-thôi,
2750Đền Chiêu Quân điện thủa đời Hán-gia.
Bèn đem tâm-sự tâu qua,
Lại xin ở đấy đợi chờ chiêm-bao.
Canh khuya thấy sứ đòi vào,
Bảo qua mấy tiếng tiêu-hao sự nhà.
Hôm sau đến Hắc-thủy hà,
Gieo châu, bỗng thấy thần đưa đem về.
Đằng vân giá vũ, cũng ghê,
Một giây bỗng thấy đưa về Trung-hoa.
Xin làm ngọc-xuyến, kim-hoa,
2760Mượn người thương khách đem đưa sang Hồ.
Hỏi thăm đến tối linh-từ,
Chiêu Quân là hiệu, bấy giờ tiến lên.
Khấn rằng là của Hạnh Nguyên,
Cho sai đưa đến án tiền tạ ân.
Lại ra các bộ sứ-thần,
Tạ từ cơ thiếp, vân vân mấy lời.
Có phen kể tích Giang Khôi,
Có phen nhớ nỗi vớt chài cầu vui.
Hai nhà phúc hậu vẹn mười,
2770Thung-thăng cõi thọ đứng ngồi đền xuân.
Đông hàng lông phượng gót lân,
Kìa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng.
Đời đời khoa-mục đỉnh-chung,
Rõ nền thi-lễ, nối dòng thư-hương.
Hiếu, trung, tiết, nghĩa đủ đường,
Dựng bia muôn kiếp, để gương nghìn đời.
Cho hay trời cũng ngồi rồi,
Tuần-hoàn đem lại vòng dài rút chơi.
Dữ, lành bỏ lửng mà coi,
2780Sắp đâu vào đấy chẳng sai phân hào !
Gian-tà chớ vội bảnh bao,
Tung lên cho đến, buộc vào tự nhiên.
Trước dù lỏng-lẻo dường thiên,
Sau càng ráo-riết, mới tin tay già.
Trung-lương còn bỏ lửng-lơ,
Xoay trăm nghìn cấp, thử ba bốn lần.
Hãy cho đeo-đẳng đủ phần,
Rõ lòng sắt đá liệu dần gỡ cho.
Voi chẳng đẻ, đẻ thì to,
2790Bấy giờ mới rõ thực lò Hóa-công.
Truyện này xem thấu thỉ-chung,
Suy ra mới biết trời không có lầm.
Dữ, lành trong một chữ tâm,
Cơ thâm thì họa cũng thâm là thường.
Ví hay tu tỉnh mọi đường,
Trước dù chịu thiệt, sau càng thấy hơn.
Bàn riêng mấy bạn kim-lan,
Phường ta bất quá sàn-sàn bực trung.
Dở đâu như Kỷ như Tung,
2800Hay đâu ví với Mai-công mà rằng.
Bình cư giữ lấy đạo hằng,
Hễ người trung-chính xin đừng tự khi.
Đã là nam tử tu mi,
Vào vòng công-nghiệp, ấy thì có vua.
Mới hay từ tóc đến tơ,
Miếng cơm, tấm áo cũng nhờ quân-ân.
Sao cho được chữ trung-thần,
Thờ vua chớ có vị thân mới đành.
Thế rồi trời cũng có mình,
2810Lo gì phúc hậu, công-danh kém người.
Phòng văn nhân buổi ngồi rồi,
Học đòi tấp-tểnh mấy lời nôm-na.
Trước là rõ kẻ trung, tà,
Sau là ta dặn lấy ta mọi bề.
Biết bao lời kệch tiếng quê,
Thôi thôi bất quá là nghề mua vui !