Phỗng đá

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Non thiêng khéo đúc nên người,
Trông chừng sành-sỏi khác người trần-gian,
Trải bao gió núi, mưa ngàn,
Đã già già sóc, lại gan gan lỳ.
Gan lỳ, già sóc,
Há non chi, mà sợ cóc chi ai!
Người là người, tớ cũng là người,
Ngắm cho kỹ, vẫn chanh-vanh đầu dốc[1].
Tương tri, tằng thức năng công ngọc,
相 知 曽 識 能 攻 玉
Mạc luyện, như hà khả bổ thiên[2].
莫 鍊 如 何 可 補 天
Thôi mặc ai rằng trắng, rằng đen[3].
Thế như thế, cũng ngồi yên như thế vậy.
Còn trời đất, hãy còn tai mắt ấy,
Lặng mà coi, họa thấy lúc nào chăng?
Hẵng về giã gạo ba trăng[4].

   




Chú thích

  1. Chanh-vanh đầu dốc: chót-vót ở chỗ núi cao, sườn dốc.
  2. Câu 9-10: biết nhau, từng biết giũa được ngọc; không luyện, làm sao vá được trời. Chữ "công ngọc" lấy ở câu trong Kinh Thi: "Tha sơn chi thạch, khả dĩ công ngọc" 他 山 之 石 可 以 攻 玉 (Đá ở núi kia, có thể đem ra rũa được ngọc). Chữ "bổ thiên" lấy ở câu trong Sử ký: "Nữ-oa luyện thạch bổ thanh thiên" (Bà Nữ-oa luyện đá vá trời xanh). Tục-ngữ ta cũng có câu: "Bà Nữ-oa đội đá vá trời". Theo sách Tam hoàng, xưa Cung-công húc đầu vào núi Bất-chu làm đổ, thành ra trời lệch về phía tây-bắc; bà Nữ-oa là em trời phải luyện đá ngũ sắc để vá lại trời cho lành. Hai câu ý nói: đá của ông phỗng đá, có thể giũa được ngọc, vá được trời, là thứ đá quý, nhưng phải có người biết dùng biết luyện mới được.
  3. Rằng trắng rằng đen: trắng, đen đây nghĩa bóng là hay, dở.
  4. Gạo ba trăng: thứ thóc cấy trong ba tháng đã gặt được; người ta cấy thứ thóc ấy để ăn tạm trước khi có thóc mùa.