Phụng tiễn Xu Phủ tây chinh hành quân đô tổng quản Lê công

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

前矛照日颭蒸沙,
遠略交暹役瓜哇。
萬里砲摧熊虎壘,
九桅船蹴渤溟波。
秦兵膽喪秋風鶴,
蔡將神驚雪夜鵝。
待報闍槃夷蟻垤,
泚洳椽筆作鐃歌。

Tiền mâu chiếu nhật triển chưng sa,
Viễn lược giao Tiêm dịch Qua Oa.
Vạn lý pháo tồi hùng hổ lũy,
Cửu nguy thuyền xúc bột minh ba.
Tần binh đảm táng thu phong hạc,
Thái tướng thần kinh tuyết dạ nga.
Đãi báo Đồ Bàn[1] di nghĩ điệt,
Thử như duyện bút tác nao ca.

Ngọn cờ đi trước dọi bóng mặt trời phất phơ trên cát nóng,
Mưu lược xa là giao hảo với Tiêm La và khống chế Qua Oa.
Muôn dặm súng lớn, bắn tan lũy gấu cọp,
Chín cột buồm giong, lướt qua sóng biển khơi.
Quân Tần vỡ mật trong tiếng hạc mùa thu,
Tướng Thái kinh hồn vì tiếng ngỗng đêm tuyết.
Chờ đợi tin san phẳng tổ kiến Đồ Bàn,
Chấm ướt ngòi bút làm bài ca cho quân đội.

   




Chú thích

  1. Đồ Bàn: kinh đô Chiêm Thành