Quá Quảng-trị tỉnh

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

Lưỡng quan nam quá nhập nam trung,
Nhập đáo Minh-lương[1] tự bất đồng.
Sơn hải chỉ nghi Tề cận lợi[2],
Lũ thường hoàn tưởng Ngụy dư phong[3].
Cô thành tọa trấn thiên lâm thế,
Sa chử binh liên nhất thủy không.
Truyền đạo lục long[4] cận tuần hạnh,
Mỹ-xuyên cung ngoại hựu tân cung[5] !

Đi về phía nam, qua hai cửa ải là vào trong Nam,
Vào đến miền sông Minh-lương thì quang cảnh đã khác.
Thấy núi cùng bể, ngờ như nước Tề chỉ chăm cái lợi trước mắt,
Nhìn dép cùng xiêm, tưởng chừng như phong tục nước Ngụy còn sót lại.
Tòa thành đứng một mình giữ cái thế trấn thủ nghìn rừng,
Bãi cát tiếp liền nhau mênh mông, trông không thấy nước.
Nghe đồn: gần đây xe « sáu rồng » vừa qua chơi,
Ngoài hành cung Mỹ-xuyên ra, lại còn hành cung mới nữa !

   




Chú thích

  1. Minh-lương: tên một con sông tại tỉnh Quảng-trị, tức là sông Hiền-lương ngày nay.
  2. Về đời Xuân-thu, nước Tề ở phía đông Trung-quốc, một mặt giáp núi, một mặt giáp bể. Nhưng người trong nước chỉ chăm cái lợi nhỏ trước mắt, cho nên nghèo, sau Quản Trọng làm tướng, khai thác nguồn lợi núi, bể, nước Tề thành giàu mạnh.
  3. Nước Ngụy cũng ở đời Xuân-thu, vì đời sống khó khăn, nên phong tục quá sẻn. Thơ Cát lũ trong kinh Thi có câu: « Củ củ cát lũ, khả dĩ lý sương, tiêm tiêm nữ thủ, khả dĩ phùng thường... » Đại ý chê những người đã dùng dép vải mỏng để đi trong mùa lạnh có sương và đã sai người vợ chưa đủ lễ cưới đem ngón tay nhỏ bé may xiêm cho đàn ông mặc. Như thế là kiệm ước thái quá, không đúng lễ.
  4. Xe sáu rồng: xe vua đi có sáu ngựa, người ta ví như sáu rồng.
  5. Đời Tự-đức, vua thường đến các nơi có cảnh đẹp ở ven bể gần Huế để du ngoạn hoặc nghỉ mát. Đi đến đâu, các tỉnh phải lập hành cung ở đấy để vua ngự.