Quan san nguyệt

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của

關山月
明月出天山,
蒼茫雲海間。
長風幾萬里,
吹度玉門關。
漢下白登道,
胡窺青海灣。
由來征戰地,
不見有人還。
戍客望邊
思歸多苦顏。
高樓當此夜,
歎息未應

Quan san nguyệt
Minh nguyệt xuất Thiên San,
Thương mang vân hải gian.
Trường phong kỷ vạn lý,
Xuy độ Ngọc Môn quan.
Hán hạ Bạch Đăng đạo,
Hồ khuy Thanh Hải loan.
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan.
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Trăng nơi quan ải
Vầng trăng nhô lên khỏi núi Thiên San,
Giữa khoảng trời mây nước biển mênh mang.
Gió thổi lan xa mấy vạn dặm,
Qua cửa ải Ngọc Môn.
Quân Hán kéo xuống con đường dẫn tới thành Bạch Đăng.
Rợ Hồ dòm ngó vịnh Thanh Hải.
Xưa nay từ nơi chiến địa,
Không thấy có người về.
Người lính thú ngắm nhìn cảnh sắc nơi biên giới,
Lòng nhớ nhà vì nghĩa đến ngày về nên vẻ mặt có nhiều nét đau khổ.
Đêm nay trên lầu cao (có người),
Hẳn cũng than thở hoài không thôi.

Trăng quan san
Vừng trăng ra núi Thiên San,
Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.
Gió đâu muôn dặm chạy dài,
Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.
Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,
Vụng[1] kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.

   




Chú thích

  1. Vùng. Chữ Loan phải dịch là vụng hoặc vũng.