Sơn trung khiển hứng

From Wikisource
Jump to navigation Jump to search
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

十年政省負秋燈,
松下行吟倚瘦藤。
隨馬望塵無俗客,
叩門問字有詩僧。
退閒綠野知何及?
散給青苗謝不能。
坐待功成名遂後,
一丘老骨已崚嶒。

Thập niên chính tỉnh phụ thu đăng[1],
Tùng hạ hành ngâm ỷ sấu đằng.
Tùy mã vọng trần vô tục khách,
Khấu môn vấn tự hữu thi tăng.
Thoái nhàn Lục Dã[2] tri hà cập?
Tán cấp Thanh miêu[3] tạ bất năng.
Tọa đãi công thành danh toại hậu,
Nhất khâu lão cốt dĩ lăng tằng.

Mười năm lo việc chính sự, phụ với ngọn đèn mùa thu
Dưới hàng thông, chống chiếc gậy khẳng khiu vừa đi vừa ngâm
Không có khách tục theo ngựa ngóng bụi trần
Có vị thi tăng gõ cửa hỏi chữ
Lui về sống an nhàn ở Lục Dã, biết còn kịp chăng?
Chia tiền theo phép Thanh miêu, xin từ không dám
Ngồi đợi đến sau này công thành danh toại
Thì một nắm xương tàn đã vùi lấp thành gò cao.

   




Chú thích

  1. Ngọn đèn mùa thu, chỉ tuổi già
  2. Tên ngôi nhà lúc về hưu của Bùi Độ (Trung Quốc), điển tích chỉ chốn về hưu
  3. Mạ xanh. Vương An Thạch (đời Tống, Trung Quốc) đặt ra "Thanh miêu pháp": nhà nước cho dân vay lúc mạ còn xanh, khi gặt phải trả cả vốn lẫn lãi - ý chỉ không muốn lao vào quan trường nữa