75%

Tam quốc diễn nghĩa/Hồi 13

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

HỒI THỨ MƯỜI BA

Lý Thôi, Quách Dĩ một trận giao binh;
Dương Phụng, Đổng Thừa hai lần cứu giá.


Tào Tháo đánh phá được Lã Bố ở Định-đào. Bố thu nhặt tàn quân mã ở bờ bể, chúng tưởng cũng lại họp tập, định quay trở lại đánh nhau với Tào Tháo.

Trần Cung can rằng:

- Nay Tào binh thế lớn, mình chưa tranh giành được với nó. Hãy nên tìm xứ nào yên thân, về sau sẽ tính cũng không muộn.

Bố hỏi:

- Ta lại muốn sang với Viên Thiệu, nên không?

Cung nói:

- Hãy nên sai người sang Ký-châu, dò xem tình ý ra sao, rồi hãy đi.

Bố nghe lời.

Bấy giờ Viên Thiệu ở Ký-châu nghe thấy Tào Tháo chống nhau với Lã Bố. Mưu sĩ của Thiệu là Thẩm Phối nói rằng:

- Lã Bố là một giống hổ sói. Nếu nó lấy được Duyện-châu, tất sang tranh cả Ký-châu. Bất nhược ta giúp Tào Tháo đánh Lã Bố, về sau khỏi lo.

Thiệu sai Nhan Lương đem năm vạn quân sang giúp Tào Tháo.

Quân do thám nghe được tin, về báo với Lã Bố. Bố sợ lắm, bàn với Trần Cung. Cung nói:

- Tôi nghe ông Lưu Bị mới lĩnh đất Từ-châu, ta nên sang nhờ ông ấy.

Bố nghe lời Cung, sang Từ-châu.

Có người báo với Lưu Bị, Bị nói:

- Lã Bố là người anh dũng đời nay, ta nên ra đón.

My Chúc nói:

- Lã Bố là giống hổ lang, không nên chứa. Chứa nó, tất có khi nó hại người.

Huyền-đức nói:

- Trước kia nếu không có Lã Bố đánh ở Duyện-châu, thì Từ-châu sao thoát được nạn. Nay hắn thế cùng mà về với ta, thì còn có bụng gì khác nữa.

Trương Phi nói:

- Kha kha bụng rất tốt. Nhưng phải giữ gìn mới được.

Lưu Bị lĩnh quân ra khỏi thành ba mươi dặm để đón Lã Bố. Hai người cùng sóng đều ngựa đi vào thành, vào đến tận châu nha. Chào mừng xong mọi người an tọa. Bố nói:

- Từ khi Vương tư-đồ giết Đổng Trác[1], về sau gặp cuộc biến loạn của bọn Thôi, [2], tôi phải long đong ở xứ Quan-đông. Chư hầu nhiều người không dung, gần đây lại gặp Tào Tháo bất nhân, xâm phạm Từ-châu. May nhờ có sứ quân cố sức cứu Đào Cung-tổ, tôi bấy giờ cũng đánh úp được Duyện-châu, mới chia được thế của Tào Tháo[3]; không ngờ tôi lại mắc phải mưu gian, hao quân tổn tướng. Nay xin về với sứ quân, cùng toan việc lớn. Chưa biết ý sứ quân nghĩ làm sao?

Huyền-đức nói:

- Đào sứ quân mới mất, không có ai quản lĩnh Từ-châu, nên sai tôi tạm quyền coi việc. Nay may có tướng quân đến đây, tôi xin nhường việc.

Nói rồi liền đem bài ấn giao cho Lã Bố. Bố chực giơ tay đỡ lấy, lại thấy sau lưng Lưu Bị có Quan Vũ, Trương Phi, hai người đều có vẻ mặt tức giận cả. Bố giả cách cười nói rằng:

- Tôi là một đứa dũng phu, làm thế nào được châu mục.

Lưu Bị lại xin nhường.

Trần Cung nói:

- Khách mạnh, không lấn được chủ. Xin sứ quân đừng nghi.

Lưu bị mới thôi, sai mở tiệc yến khoản đãi, rồi sai dọn dẹp một nơi tươm tất để Lã Bố nghỉ ngơi.

Hôm sau Lã Bố làm tiệc mời lại Huyền-đức. Lưu, Quan, Trương cùng đi.

Uống rượu độ nửa chừng, Lã Bố mời Huyền-đức vào nhà trong. Quan, Trương cùng theo vào. Lã Bố sai vợ con ra lạy. Huyền-đức hai ba lần khiêm tốn không dám nhận.

- Hiền đệ bất tất phải khiêm nhường.

Trương Phi nghe thấy câu ấy, trợn mắt thét mắng:

- Anh tao là cành vàng lá ngọc. Mày là thằng nào dám gọi anh tao là hiền đệ? Lại đây, tao đánh với mày ba trăm hợp.

Lưu Bị vội vàng mắng át đi. Quan-công khuyên Trương Phi đi ra, rồi lấy lời ôn tồn nói với Lã Bố rằng:

- Em tôi uống rượu say nói càn, xin anh đừng chấp.

Bố lặng yên không nói.

Một hồi, tiệc tan. Lã Bố tiễn Lưu Bị ra tận cửa. Trương Phi cưỡi ngựa đi ngang ngoài cửa thét to:

- Lã Bố, tao đánh cùng mày ba trăm hợp!

Lưu Bị vội vàng sai Quan-công ra bảo Trương Phi phải thôi đi.

Đến hôm sau, Lã Bố đến từ giã Lưu Bị nói rằng:

- Tôi nay nhờ được sứ quân cũng không nỡ bỏ, nhưng chỉ sợ lệnh đệ không dung. Vậy tôi xin đi nơi khác.

Lưu Bị nói:

- Nếu tướng quân đi thì tội tôi chẳng hóa ra to lắm ru. Em tôi nó nói xâm phạm tướng quân, hôm khác tôi xin bắt nó đến xin lỗi. Gần đây có ấp Tiểu-bái, khi trước tôi cũng đã đóng đồn ở đó. Xin tướng quân chớ nề hẹp hòi tạm đến nghỉ ngựa. Lương thực và quân nhu, tôi xin ứng biện cả.

Lã Bố tạ ơn Lưu Bị, rồi dẫn quân ra đóng ở Tiểu-bái.

Lưu Bị từ bữa ấy chê trách Trương Phi mãi.

Tào Tháo từ khi bình được Sơn-đông, dâng biểu tâu về triều đình. Triều đình thăng chức cho Tháo làm Kiến-đức tướng-quân, phong làm Phí-đình-hầu.

Lúc bấy giờ Lý Thôi tự làm đại-tư-mã. Quách Dĩ tự làm đại-tướng-quân, hoành hành không còn vì nể ai cả. Triều đình không ai dám mở miệng.

Thái-úy là Dương Bưu, đại-tự-nông là Chu Tuấn mật tâu với vua Hiến-đế rằng:

- Nay Tào Tháo cầm hơn 20 vạn quân, mưu thần, dũng tướng trong tay có vài mươi người. Nếu được người ấy để phù trì xã tắc, tiễu trừ đứa gian phi, thì thiên hạ may lắm!

Hiến-đế khóc nói rằng:

- Trẫm bị hai thằng giặc ấy khinh nhờn đã lâu. Nếu giết được thì may lắm.

Bưu tâu rằng:

- Tôi có một mẹo, trước làm cho hai đứa tự tàn hại lẫn nhau, rồi sau mới vời Tào Tháo đem binh vào giết, quét sạch lũ giặc để yên triều đình.

Hiến-đế hỏi:

- Kế ấy là kế gì?

Bưu tâu:

- Tôi nghe vợ Quách Dĩ rất hay ghen, sai người đi lại với vợ nó, dùng kế phản gián, hai thằng giặc tất giết lẫn nhau.

Vua liền viết tờ mật chiếu, đưa cho Dương Bưu, sai Bưu thi hành kế ấy.

Bưu lập tức sai vợ, lấy cớ có việc đến phủ Quách Dĩ, nhân dịp bảo vợ Dĩ rằng:

- Tôi nghe Quách tướng quân thường cùng với phu nhân Lý tư-mã có tư tình với nhau, tình thân mật lắm. Nếu quan tư-mã biết chuyện tất bị tai vạ. Phu nhân nên giữ gìn đừng cho đi lại nữa là hơn.

Vợ Dĩ đem lòng ngờ ngay chồng, nói:

- Thảo nào! Mấy đêm nay nhà tôi không về. Chẳng hóa ra đi làm việc vô sỉ ấy. Giá phu nhân không nói thì tôi không biết, để từ nay tôi xin giữ gìn.

Vợ Bưu từ giã về. Vợ Dĩ ra tiễn, hai ba lần tạ ơn rồi mới trở vào.

Được vài ngày, Quách Dĩ lại sắp sang phủ Lý Thôi ăn yến. Vợ ngăn không cho đi nói rằng:

- Lý Thôi là người bất trắc lắm. Vả thời nay hai người anh hùng không chắc đứng lâu được với nhau. Phu quân sang bên ấy, ví dù trong khi ăn uống, Lý Thôi đánh thuốc độc, thiếp làm thế nào?

Quách Dĩ nhất định không nghe. Vợ hai ba lần ngăn can. Buổi chiều Lý Thôi sai người đem biếu một mâm rượu. Vợ Dĩ bỏ thuốc độc vào đồ ăn rồi mới bưng vào cho chồng. Dĩ định ăn ngay vợ nói:

- Đồ ăn ở ngoài đưa lại, không nên ăn ngay.

Nói rồi đem đổ một ít cho chó ăn thử. Chó ăn chết liền.

Từ đấy Quách Dĩ có bụng ngờ Lý Thôi.

Một hôm tan chầu, Lý Thôi lại mời Quách Dĩ về nhà uống rượu. Dĩ cũng đến. Đến đêm tan tiệc, Dĩ say mới trở về. Ngẫu nhiên đêm hôm ấy đau bụng. Vợ thấy vậy mới nói:

- Thôi lại ăn phải thuốc độc rồi!

Nói rồi sai lấy nước phân cho uống. Dĩ uống xong thổ ra hết đồ ăn, thì khỏi đau bụng. Dĩ giận lắm nói rằng:

- Ta với Lý Thôi cùng toan việc lớn với nhau, nay bỗng dưng muốn hại ta. Ta không liệu trước tất mắc tay nó.

Liền sửa sang giáp binh bản bộ mình để đi đánh Lý Thôi. Có người báo với Thôi. Thôi nổi giận nói rằng:

- Quách Dĩ sao dám thế.

Cũng đem giáp binh bản bộ lại đánh.

Hai người họp binh vài vạn ở dưới thành Tràng-an đánh nhau chán rồi, thừa thế cướp bóc của dân.

Cháu Lý Thôi là Lý Tiêm, dẫn quân đến vây cung điện, rồi lấy hai cỗ xe, một cỗ chở thiên tử, một cỗ chở Phục hoàng-hậu, rồi sai Giả Hủ, Tả Linh đi giám áp xa giá; còn bao nhiêu phu nhân nội thị đều phải đi chân cả. Trong khi mọi người kéo ra cửa Hậu-tể, gặp ngay binh Quách Dĩ đến, bắn nhau tua tủa. Cung nhân bị chết vô số. Lý Thôi từ đằng sau đánh lại. Quách Dĩ phải rút lui, xa giá mạo hiểm ra ngoài thành, không ai phân giải điều gì, bị đưa ngay đến dinh Lý Thôi. Quách Dĩ lui binh vào cung bắt hết cung tần thái nữ đem về trại, rồi phóng hỏa đốt cung điện.

Hôm sau, Quách Dĩ biết Lý Thôi cướp mất thiên tử bèn đem binh đến trước cửa trại đánh nhau.

Vua và hoàng hậu đều sợ hãi lắm.

Đời sau có bài ca rằng:

    Từ khi Quang Vũ trung hưng
Truyền đời trên dưới, mới chừng mười hai.
    Hoàn, Linh, vô đạo nối ngôi,
Yểm thần chuyên chính, ra đời đã suy.
    Tam công Hà Tiến ra gì,
Muốn trừ chuột xã[4] gọi chi gian thần?
    Đuổi sài rước hổ vào trong,
Tây-châu giặc Đổng nổi lòng dâm hung,
    Tư-đồ mưu cậy má hồng[5],
Khiến cho Đổng, lẫn cùng giết nhau.
    Giặc tan dân đã bớt sầu,
Biết đâu , Quách ra mầu hung hăng!
    Kinh thành cỏ rậm gai chằng
Sáu cung đói khát khổ đàng can qua.
    Vận trời đến buổi sút sa
Anh hùng chia xẻ sơn hà lìa tan.
    Vua sau coi đấy nên răn,
Lọ vàng chớ để cho tan mẻ hoài.
    Sinh dân gan nát óc lầy,
Máu oan lây láng tràn đầy non sông.
    Ta xem sử xót thương lòng,
Thử ly[6] thơ trước hãi hùng xưa nay.
    Bào tang[7] giữ lấy lời này,
Gươm thần cầm vững vẹn bày cương duy.

Khi quân Quách Dĩ đến, Lý Thôi ra trại đánh nhau. Quách Dĩ thua rút về. Lý Thôi mới đem xa giá vua và hoàng hậu rời sang My-ổ, sai cháu là Lý Tiêm coi giữ, cấm nội sứ không cho ai ra vào. Vua tôi ăn uống bữa có bữa không. Thị thần người nào người ấy đói võ cả mặt.

Một bữa vua cho người ra hỏi Lý Thôi lấy năm hộc gạo và năm bộ xương trâu để cho kẻ hầu người hạ ăn. Thôi nổi giận mắng rằng:

- Sớm chiều đã dâng cơm rồi, còn đòi gì nữa?

Rồi lấy những thịt thiu cơm vữa đem cho.

Hôi hám quá không ai ăn được vua mới mắng rằng:

- Nghịch tặc dám khinh tao như thế à!

Thị-trung là Dương Bưu kíp tâu rằng:

- Quân chúng nó đã tàn bạo đến thế này, xin bệ hạ hãy nên nhịn, không nên trêu tức nó.

Vua cúi đầu không nói gì nữa, tay áo long-cổn gạt hai hàng nước mắt chứa chan. Chợt thấy tả hữu vào báo rằng:

- Có một đám quân mã, gươm giáo sáng choang, chiêng trống om sòm, lại đây cứu bệ hạ.

Vua sai ra xem ai, thì là Quách Dĩ, lại càng lo thêm. Ở ngoài ổ tiếng người reo rầm rĩ, tức là Lý Thôi dẫn quân đến đánh Quách Dĩ.

Thôi cầm roi trỏ vào Dĩ mắng rằng:

- Tao đối đãi mày không bạc gì, sao mày lại lập tâm hại tao, hở Dĩ?

- Mày là thằng phản tặc, chẳng giết để chi?

Thôi nói:

- Tao bảo vệ vua ở đây, sao lại là phản tặc?

Dĩ nói:

- Thế là bức hiếp vua, sao gọi là bảo vệ vua?

Thôi nói:

- Nói làm chi nhiều, tao với mày không dùng quân sĩ, chỉ hai thằng đánh nhau, thằng nào được thì đem vua đi.

Hai người liền đánh nhau ngay ở trước trận.

Đánh nhau được mười hợp, chưa rõ ai được thua, thì thấy Dương Bưu tế ngựa lại gọi to lên rằng:

- Xin hai vị tướng quân hãy ngừng tay. Tôi đã mời các quan đến đây để giảng hòa.

Hai bên ai về trại nấy.

Dương Bưu và Chu Tuấn hội họp các quan triều thần hơn 60 người, kéo nhau đến trại Quách Dĩ dàn hòa trước. Dĩ bắt các quan giam cả lại. Các quan kêu rằng:

- Chúng tôi đến đây để bàn điều hay, sao lại đối đãi như thế?

Quách Dĩ nói:

- Lý Thôi bắt hiếp thiên tử, thì ta cũng bắt hiếp công khanh, chứ kém gì?

Dương Bưu nói:

- Một người hiếp thiên tử, một người hiếp công khanh là ra làm sao?

Dĩ nổi giận lên, cầm gươm toan giết Dương Bưu, có quan trung-lang-tướng là Dương Mật cố can mãi, Dĩ mới tha cho Bưu và Chu Tuấn, còn các quan thì giam cả lại trong trại. Ra ngoài Bưu bảo với Tuấn rằng:

- Anh em mình làm tôi xã tắc, nay không cứu được chúa, sống ở trên đời cũng là thừa.

Nói xong hai người ôm lấy nhau khóc, ngã lăn xuống đất.

Tuấn về nhà lo nghĩ thành bệnh chết.

Từ bấy giờ Thôi, Dĩ cứ mỗi ngày một lần đánh nhau, ròng rã hơn 50 ngày giời, quân chết không biết bao nhiêu mà kể.

Lý Thôi tính hay ưa tà đạo và thuật yêu quái, thường thường hay kiều cúng lên đồng ở trong quân. Giả Hủ can mãi không nghe.

Thị-trung là Dương Kỳ thấy vậy liền tâu mật với vua rằng:

- Tôi xem Giả Hủ, tuy làm tâm phúc Lý Thôi, nhưng thực bụng vẫn chưa từng quên vua. Bệ hạ nên bàn với hắn.

Đang nói thì Giả Hủ ở đâu đến. Vua đuổi tả hữu đứng xa ra, rồi khóc bảo Hủ rằng:

- Ngươi có thương nhà Hán mà cứu lấy trẫm không?

Hủ phục xuống đất, lạy thưa rằng:

- Xin bệ hạ chớ nói ra. Bụng tôi vốn vẫn muốn thế, tôi xin sẽ liệu việc ấy.

Vua gạt nước mắt tạ Hủ.

Được một chốc, Lý Thôi lại đeo gươm đi thẳng vào. Mặt vua xám ngắt. Thôi nói với vua rằng:

- Quách Dĩ là đứa bất nhân, nó dám giam giữ các công khanh, lại muốn bức hiếp cả bệ hạ, không có tôi xa giá bị xiêu dạt rồi.

Vua chắp tay tạ. Thôi mới ra.

Rồi lại có Hoàng Phủ-Lịch vào ra mắt, vua biết Lịch là người nói khéo, lại là người làng Lý Thôi, sai Lịch ra giải hòa hai bên. Lịch vâng chiếu, đến trại Quách Dĩ nói. Dĩ bảo:

- Hễ Lý Thôi có đưa thiên tử ra thì ta tha các công khanh.

Lịch lại đến Lý Thôi bảo rằng:

- Nay thiên tử biết tôi là người Tây-lương, cùng làng với ông, nên sai tôi đến giải hòa cho hai ông. Dĩ phụng chiếu rồi, còn ông làm sao?

Thôi nói:

- Ta có công đánh được Lã Bố, làm phụ-chính đã bốn năm nay, công trạng rất nhiều. Thiên hạ ai cũng biết. Quách Dĩ bất quá là một thằng ăn trộm ngựa mà thôi, thế mà nó dám ăn hiếp công khanh, cùng ta kháng cự. Ta thề phen này phải giết nó. Anh thử trông xem quân sĩ và phương lược của ta, có đánh nổi được thằng Quách Dĩ không?

Lịch nói:

- Không nên, ông ơi! Ngày xưa người Hậu Nghệ ở xứ Hữu-cùng cậy mình bắn giỏi, không biết lo nghĩ đến nỗi tuyệt diệt. Vừa mới rồi, Đổng thái-sư cường thịnh bao nhiêu, rồi sau thế nào, mắt ông đã trông thấy rành rành, Lã Bố đội ơn Đổng thái-sư mà lại giết Đổng thái-sư, chỉ trong giây phút, đầu thái-sư treo cửa chợ, xem thế thì cường thịnh có vững chắc gì. Tướng quân mình làm thượng-tướng cầm phủ-việt, cắp cờ tiết, họ hàng con cháu đều ở ngôi cao; ơn nước không phải không hậu. Quách Dĩ hiếp công khanh, ông hiếp vua, thế thì bên nào nhẹ, bên nào nặng.

Lý Thôi giận lắm rút gươm ra mắng rằng:

- Thiên tử sai mày đến đây để làm nhục tao hay sao? Trước hết tao hãy chém đầu mày!

Kỵ-đô-úy là Dương Phụng can rằng:

- Nay chưa trừ được Quách Dĩ, lại đem giết sứ nhà vua, tôi e Quách Dĩ vin cớ để khởi binh, chư hầu ai cũng sẽ giúp nó.

Giả Hủ cũng cố can, Thôi mới nguôi cơn giận. Hủ đẩy Hoàng Phủ-lịch ra. Lịch kêu to lên rằng:

- Thôi không phụng chiếu, muốn giết vua để tự lập.

Thị-trung là Hồ Mặc vội vàng ngăn nói rằng:

- Đừng nói câu ấy, sợ sẽ không lợi cho bản thân.

Lịch mắng rằng:

- Hồ Mặc! Ngươi cũng là tôi triều đình, sao lại về bè với giặc. Vua nhục thì tôi phải chết. Dù ta bị Lý Thôi giết, là ta trọn đạo làm tôi chứ sao?

Lịch vừa nói vừa mắng mãi không thôi. Vua thấy vậy vội vàng sai Lịch trở về Tây-lương.

Quân Lý Thôi quá nửa là người ở Tây-lương, lại được người ở nước Khương giúp đỡ.

Hoàng Phủ-lịch đến Tây-lương, nói toang lên rằng:

- Lý Thôi mưu làm phản, hễ ai theo nó là giặc, còn nhiều điều đáng lo về sau.

Nhiều người Tây-lương tin lời của Lịch, lòng quân sĩ của Lý Thôi cũng dần dần nao núng. Thôi nghe tin ấy giận lắm, kíp sai hổ-bôn là Vương Sương đuổi theo. Sương biết Lịch là người trung nghĩa, không đi đuổi về báo rằng: “Không biết Lịch đi đằng nào”.

Một bên thì Giả Hủ dỗ người nước Khương rằng: “Thiên-tử cũng biết chúng bay là trung nghĩa, đánh mãi thì khổ nhọc. Bởi vậy bệ hạ có mật chiếu cho chúng bay về quận, ngày sau sẽ có thưởng to”.

Người nước Khương đang oán sẵn Lý Thôi không cho hưởng tước, liền nghe nhời Giả Hủ, kéo cả về.

Hủ lại tâu với vua rằng:

- Lý Thôi tham mà vô mưu, thấy binh lính tán, bụng đã lo sợ, bệ hạ nên lấy trọng tước mà dử[8] nó.

Vua liền hạ chiếu phong Lý Thôi làm đại-tư-mã. Thôi mừng nói rằng:

- Phúc này thật là thần thánh giáng cho ta. Lạy thánh vạn lạy, có kiều cúng ngài cũng có hơn!

Thôi thưởng to cho các đồng cốt, còn quân tướng thì không nói gì đến. Kỵ-đô-úy là Dương Phụng giận lắm bàn với Tống Quả rằng:

- Chúng ta ra sống vào chết, xông pha mũi tên hòn đạn, mà té ra công trạng không bằng mấy mụ đồng bóng.

Tống Quả nói:

- Thế thì sao không giết nó đi mà cứu thiên tử.

Phụng nói:

- Ngươi ở trong quân đốt lửa làm hiệu, rồi ta ở ngoài kéo binh vào tiếp ứng.

Hai người đính ước canh hai[9] đêm hôm ấy khởi sự. Không ngờ việc không kín, tiết lộ ra có người nghe thấy báo với Lý Thôi. Thôi giận sai người bắt Tống Quả giết đi. Dương Phụng dẫn binh ở ngoài chờ mãi không thấy hiệu lửa. Lý Thôi tự đem binh ra, vừa gặp Dương Phụng đến. Hai bên đánh nhau đến canh tư[10]. Phụng thế không đánh nổi, chạy về Tây-an.

Tự đấy, quân thế Lý Thôi mỗi ngày một suy, lại thường thường bị Quách Dĩ đến đánh, quân sĩ bị giết chết rất nhiều, chợt lại có người báo rằng:

- Trương Tế thống lĩnh một cánh đại-quân từ Thiểm-tây đến, muốn giảng hòa cho hai bên, nói rao lên rằng: bên nào không nghe thì đánh.

Thôi nhân thể lấy lòng Trương Tế, sai người đến Quách Dĩ cầu hòa. Dĩ cũng phải vâng theo.

Trương Tế dâng biểu mời thiên-tử ra chơi Hoằng-nông. Vua mừng nói rằng:

- Ta đã lâu nay nhớ Đông-đô lắm. Nay nhân thể được về, lấy làm may lắm.

Liền hạ chiếu phong Trương Tế làm phiêu-kỵ tướng-quân. Tế dâng lương thực, rượu thịt để cung cấp cho các quan. Quách Dĩ cũng tha cho các công khanh ra trại. Lý Thôi cũng thu xếp xa giá để về Đông-đô, sai quân ngự-lâm vài trăm, cầm kích đi hộ tống. Khi loan giá qua Tân-phong đến Bá-lăng, trời về tiết thu, bỗng nổi cơn gió lạnh, nghe thấy có tiếng reo, rồi thấy vài trăm quân đến đầu cầu chẹn đường không cho xa giá đi, quát to hỏi rằng:

- Người nào qua đây?

Thị-trung là Dương Kỳ tế ngựa lên cầu nói rằng:

- Xe vua qua đây, đứa nào dám ngăn trở?

Có hai tướng ra nói:

- Chúng tôi vâng lệnh Quách tướng-quân sai giữ cầu này, phòng kẻ gian phi. Có phải xa giá vua đi, xin được trông thấy vua, chúng tôi mới tin.

Dương Kỳ mở rèm châu ra, vua mới dụ bảo rằng:

- Trẫm ở đây, sao các ngươi không lui quân?

Chúng tướng trông thấy, đều reo: “Vạn tuế!” Rồi đứng ra hai bên, để xa giá đi qua. Xe đi rồi, hai tướng về báo với Quách Dĩ.

Dĩ nói:

- Ta ý muốn đánh lừa Trương Tế, bắt xa giá quay về My-ổ, sao chúng bay được tự tiện tha ngay?

Dĩ liền chém hai tướng rồi khởi binh đi đuổi xe vua.

Xe đi đến huyện Hoa-âm, bỗng nghe đằng sau có tiếng reo vang dậy, gọi to rằng:

- Xa giá đừng đi vội!

Vua khóc bảo với đại thần rằng:

- Vừa thoát hang sói, lại gặp miệng hùm. Bây giờ tính làm sao?

Các quan sợ mất vía. Quân giặc gần đến nơi, chợt nghe đằng sau có tiếng trống đánh, rồi có một tướng đi lên trước, sau có một lá cờ lớn để bốn chữ “ĐẠI HÁN DƯƠNG PHỤNG”, kéo hơn một nghìn quân ra.

Nguyên Dương Phụng từ khi bị Lý Thôi đánh, dẫn quân đóng ở núi Chung-nam, nghe vua đi qua đấy nên đến để đi theo hộ giá. Giữa khi ấy quân Dĩ đến nơi. Hai bên dàn thành thế trận. Tướng Quách Dĩ là Thôi Dũng phóng ngựa ra, mắng Phụng là phản tặc. Phụng giận lắm ngoảnh đầu lại gọi:

- Công-minh ở đâu?

Một tướng, tay cầm búa lớn, quất ngựa hoa-lưu chạy ra, xông thẳng vào đánh Thôi Dũng. Hai ngựa giao nhau, chỉ một hợp, đầu Dũng đứt rơi dưới chân ngựa.

Phụng thừa thế đánh tràn vào. Quách Dĩ thua to, lui hai mươi dặm.

Phụng thu quân bái kiến thiên-tử. Vua dụ bảo rằng:

- Ngươi cứu được trẫm, công thực to!

Phụng cúi đầu lạy tạ. Vua phán hỏi:

- Tướng vừa chém được giặc là ai?

Phụng dắt tướng ấy lại lạy tạ ở dưới xa giá, rồi thưa rằng:

- Người này vốn ở Dương-quận, xứ Hà-đông, họ Từ tên Hoảng, tên chữ là Công-minh.

Vua lấy lời phủ dụ, Dương Phụng hộ vệ xa giá đến đóng ở Hoa-âm. Tướng quân là Đoàn Ổi dâng y phục và đồ ăn uống. Đêm hôm ấy vua nghỉ trong trại Dương Phụng.

Quách Dĩ thua một trận, hôm sau đem quân kéo đến cửa trại thách đánh, Từ Hoảng cưỡi ngựa ra trước. Dĩ thả đại quân vây bọc tám mặt. Vua và Dương Phụng cùng bị khốn ở trong vây. Đương lúc nguy cấp, chợt nghe mé đông nam, có tiếng reo nổi ầm, rồi thấy một tướng kéo quân mã đến, phá quân giặc tan vỡ. Từ Hoảng mới thừa thế đánh ra, quân Dĩ bị thua chạy tan vỡ.

Tướng ấy đến ra mắt vua, thì là quốc-thích Đổng Thừa. Vua khóc kể lại chuyện trước.

Thừa tâu rằng:

- Xin bệ hạ đừng lo, tôi xin cùng với Dương tướng quân thề chém hai thằng giặc ấy để yên thiên hạ.

Vua truyền lệnh đi mau đến Đông-đô. Xa giá đi suốt đêm ấy đến Hoằng-nông.

Quách Dĩ thua, kéo quân về, vừa gặp ngay Lý Thôi. Dĩ nói:

- Dương Phụng, Đổng Thừa cứu giá đến Hoằng-nông rồi. Nếu để nó đi được đến Sơn-đông, có chỗ đứng chân vững vàng, tất nhiên sẽ bố cáo thiên hạ, với chư hầu đến đánh anh em ta, thì ba họ nhà chúng ta cũng không giữ nổi.

Thôi nói:

- Nay Trương Tế đóng quân ở Trường-an, chưa nên khinh động. Người cùng ta nên tụ quân lại một nơi, rồi đến thẳng Hoằng-nông giết phăng Hiến-đế đi, chia đôi thiên hạ với nhau, thì có làm sao?

Dĩ mừng lắm, xin vâng ngay. Hai người hợp quân làm một, đi đến đâu cướp bóc vét sạch của dân đến đấy.

Dương Phụng, Đổng Thừa nghe tin quân Thôi, Dĩ kéo đến, liền quay binh trở lại, đánh nhau to ở Đông-giản.

Thôi, Dĩ bàn với nhau rằng:

- Quân ta nhiều, quân nó ít. Ta chỉ cứ đánh bừa đi là được.

Nói xong rồi, Lý Thôi ở tả, Quách Dĩ ở hữu, kéo tràn quân lại, đầy cả núi, lấp cả đồng. Phụng, Thừa hai người cố liều chết mà đánh, chỉ giữ riết lấy xa giá của vua và hoàng hậu, còn các quan, các cung nhân, và sổ sách, đồ đạc, các thứ của vua dùng, phải vứt bỏ cả.

Quách Dĩ kéo binh vào Hoằng-nông cướp bóc. Thừa, Phụng hộ xa giá chạy sang Thiểm-bắc. Thôi, Dĩ chia quân hai đường đi đuổi. Thừa, Phụng một mặt sai người cùng với Quách Dĩ giảng hòa, một mặt mật đưa chiếu chỉ đến Hà-đông, kíp vời quan bạch-ba-xúy là Hàn Tiêm, Lý Nhạc và Hồ Tải, đem quân mã ba xứ lại cứu.

Lý Nhạc nguyên là giặc cỏ tụ tập ở núi rừng. Nay bất đắc dĩ cũng phải triệu đến.

Quân ba xứ được tin vua tha tội lại cho làm quan, liền đem cả quân sĩ bản doanh của mình đến, ước với Đổng Thừa cùng nhau hội hợp làm một lấy lại Hoằng-nông.

Bấy giờ Lý Thôi, Quách Dĩ đi đến đâu, cướp bóc đến đấy, người già yếu đem giết sạch, người khỏe mạnh bắt đi theo làm quân, khi nào đánh nhau bắt dân binh đi trước, gọi là quân cảm tử.

Thế Lý, Quách to lắm. Quân Lý Nhạc đến gặp giặc ở Vị-dương.

Quách Dĩ sai quân đem áo sống đồ đạc bỏ cả dọc đường. Quân Nhạc thấy áo sống ngổn ngang cả đất, tranh nhau nhặt lấy, nhốn nháo mất cả hàng ngũ. Thôi, Dĩ hai cánh quân đánh dồn lại. Quân Nhạc thua to. Dương Phụng chống chế không nổi, hộ giá chạy sang mặt Bắc. Quân giặc đuổi theo sau lưng. Lý Nhạc nói:

- Việc kíp rồi, xin thiên tử lên ngựa đi trước.

Vua nói:

- Ta không nỡ bỏ trăm quan chạy lấy một mình.

Các quan cùng kêu khóc đi theo.

Hồ Tài bị quân giặc giết mất. Phụng, Thừa, thấy giặc đuổi gấp lắm, tâu xin vua xuống xe đi bộ.

Đi đến bờ sông Hoàng-hà, Lý Nhạc tìm được một chiếc thuyền nhỏ để sang sông.

Bấy giờ trời đang giá rét. Vua và hoàng hậu dắt nhau đến bờ sông, bờ cao quá không xuống được thuyền. Đằng sau giặc sắp đến nơi.

Dương Phụng nói rằng:

- Nên cởi cương ngựa ra, chắp nối lại, buộc vào lưng vua, để đưa xuống thuyền.

Trong đám có quốc-cữu là Phục Đức cắp vài mươi tấm lụa trắng, chạy lại nói rằng:

- Trong lúc quân rối loạn tôi có nhặt được lụa này xin đem để buộc.

Hành-quân hiệu-úy là Thượng Hoằng lấy lụa buộc vào lưng vua và hoàng hậu, sai chúng ròng vua xuống thuyền trước.

Lý Nhạc cầm thanh gươm đứng ở đầu thuyền. Quốc-cữu Phục Đức (vốn là anh hoàng hậu) cõng hoàng hậu xuống.

Trên bờ những người chưa được xuống, tranh nhau vịn vào dây neo, Lý Nhạc lấy gươm chặt dây rơi cả xuống nước. Khi chở được vua và hoàng hậu sang sông, lại đẩy thuyền lại để chở các quan và quân sĩ. Những người tranh nhau xuống trước bị chặt gẫy cả ngón tay kêu khóc rầm trời. Lúc sang được bên kia sông, tả hữu vua chỉ còn có hơn mười người.

Dương Phụng tìm được một cái xe trâu kéo, rước vua đến Đại-dương. Hôm ấy phải nhịn đói. Đến tối mới kiếm được nhà ngói vào ngủ.

Các bô lão đem cơm dâng, để vua và hoàng hậu xơi, nhưng gạo xấu cơm hẩm, vua và hoàng hậu không sao nuốt được.

Hôm sau vua hạ chiếu phong cho Lý Nhạc làm chinh-bắc tướng quân; Hàn Tiêm làm chinh-đông tướng quân rồi lại lên xa giá đi. Lúc đi có hai đại thần tìm đến khóc và lạy ở trước xa giá. Hai người ấy là thái-úy Dương Bưu và thái-bộc Hàn Dung. Vua và hoàng hậu cũng khóc, Hàn Dung mới tâu rằng:

- Lý Thôi, Quách Dĩ hơi tin lời tôi, tôi nguyện liều thân sang dụ nó bãi binh. Xin bệ hạ giữ gìn lấy long thể.

Hàn Dung đi rồi, Lý Nhạc mời vua vào trại Dương Phụng tạm nghỉ, Dương Bưu lại mời vua về huyện An-ấp. Vua đến An-ấp không có nhà nào cao sạch, vua và hoàng hậu phải vào trọ trong nhà tranh, bốn mặt cửa ngõ không có, chỉ có rào gai tre. Vua và các quan đại thần vào trong nhà tranh ấy bàn việc. Các tướng đem quân đóng ở ngoài hàng rào để trấn áp.

Bọn Lý Nhạc từ khi đến giúp vua, ra mặt chuyên quyền. Các quan hơi có ai nói chạm đến, nó mắng liền ngay trước mặt vua. Nó lại đưa cho vua ăn uống những rượu đục cơm thô. Vua cũng cứ phải cắn răng mà chịu.

Lý Nhạc và Hàn Tiêm lại có hơn hai trăm đầy tớ bộ hạ, nào thày cúng, nào thày thuốc. Hai đứa tâu cho làm hiệu-úy, ngự-sử cả. Khắc ấn không kịp lấy dùi vạch gỗ ra làm ấn, chẳng ra thể thống gì nữa.

Hàn Dung sang nói với Lý Thôi, Quách Dĩ. Hai thằng giặc ấy cũng nghe, tha cho các quan và những cung nhân được về.

Năm ấy mất mùa to. Trăm họ phải ăn những rau cỏ và ăn táo trừ bữa, chết đói khắp cả thôn dã.

Thái-thú Hà-nội là Trương Dương dâng gạo thịt; thái-thú Hà-đông dâng lụa vải, vua cũng hơi được ung dung một chút.

Đổng Thừa, Dương Phụng bàn nhau rằng:

- Ta nên sai người đi sửa lại các cung điện ở Lạc-dương để rước xa giá về Đông-đô.

Lý Nhạc không nghe, Đổng Thừa mới bảo Nhạc rằng:

- Lạc-dương vốn là nơi thiên-tử đóng đô. An-ấp là chỗ đất nhỏ, không sao để được xa giá ở đấy. Nay phụng giá về Lạc-dương là phải hơn.

Lý Nhạc nói:

- Có phải thế, các ông cứ việc phụng giá đi, ta cứ đóng ở đây.

Dương Phụng, Đổng Thừa cứ phụng giá đem đi.

Nhạc ở lại, sai người kết liên với Lý Thôi, Quách Dĩ, bàn nhau cùng lại để cướp giá.

Phụng, Thừa, với Tiêm biết trước được mưu ấy, liền đêm hôm ấy dàn bày quân sĩ, để gìn giữ giá vua, đi vụt ngay đến Cơ-quan. Lý Nhạc nghe tin ấy, không đợi quân Thôi, Dĩ đến nữa, tự mình dẫn quân mã bản bộ mình đi đuổi xa giá. Đến canh tư[11] đuổi kịp đến dưới núi Cơ-sơn, thét to lên rằng:

- Xa giá không được đi vội. Lý Thôi, Quách Dĩ ở đây!

Vua Hiến-đế sợ run không được.

Thế rõ thực là:

    Khi xưa đôi giặc đôi quân;
Nay thì ba giặc một quần với nhau.

Chưa biết vua Hiến-đế phen này làm thế nào mà thoát được nạn. Xem đến hồi sau sẽ biết.

   




Chú thích

  1. Vào đầu Hồi thứ chín.
  2. Vào cuối Hồi thứ chín, đầu Hồi thứ mười.
  3. Vào cuối Hồi thứ mười một.
  4. Chuột xã là chuột trong cái nền xã, nền xã là nền vua tế thần làm ruộng.
  5. Ý nói Điêu Thuyền
  6. Thử ly: là thơ Thử ly ở kinh Thi. Ngày xưa có người trông cung thất nhà vua hóa ra ruộng lúa, thương mà làm thơ ấy.
  7. Bào tang: là khóm dâu. Nghĩa là giữ nước được bền vững như khóm dâu.
  8. nhử.
  9. Ngày xưa một đêm được chia làm 5 canh gác, cứ qua mỗi canh lại có người đánh trống hoặc kẻng để báo hiệu, từ đó có đơn vị thời gian canh vào ban đêm. Canh hai là khoảng từ 9 đến 11 giờ tối.
  10. Canh tư là khoảng từ 1 đến 3 giờ sáng.
  11. Canh tư là khoảng từ 1 đến 3 giờ sáng.