75%

Tam quốc diễn nghĩa/Hồi 6

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

HỒI THỨ SÁU

Đốt Kim Quyết, Đổng Trác làm càn
Giấu ngọc tỷ, Tôn Kiên trái ước

Trương Phi tế ngựa xấn vào cửa ải, định lên trên ải, nhưng tên đạn bắn xuống như mưa, không thể nào lên được, phải quay ngựa trở về.

Chư hầu tám xứ cùng mời Lưu, Quan, Trương đến mừng công, rồi cho về trại Viên Thiệu báo tin mừng. Thiệu bèn đưa tờ hịch đến Tôn Kiên bảo Kiên tiến binh.

Tôn Kiên liền đem Hoàng Cái, Trình Phổ, đến trại Viên Thuật, rồi cầm gậy vạch xuống đất nói rằng:

- Đổng Trác với tôi thật không có hằn thù gì, nay tôi không nghĩ gì đến thân, xông pha mũi tên hòn đạn để trừ nó, trước vị nước nhà, sau để báo thù riêng cho nhà tướng quân (cho Viên Ngỗi), thế mà tướng quân nghe lời gièm pha, không phát lương cho tôi, để đến nỗi tôi bị thua, sao tướng quân đành lòng thế được?

Thuật thấy nói vậy, sợ hãi không biết nói làm sao, bèn sai đem chém người gièm, để từ tạ Tôn Kiên. Khi ấy bỗng có người đến báo với Kiên rằng:

- Trên cửa ải có một tướng, cưỡi ngựa đến trại, muốn vào hầu tướng quân.

Kiên từ giã Thuật về trại, gọi hỏi ai, hóa ra ái tướng của Đổng Trác tên là Lý Thôi.

Kiên hỏi:

- Mày lại đây làm gì?

Lý Thôi nói:

- Thừa tướng chỉ kính trọng tướng quân thôi! Nay thừa tướng muốn kết thân với tướng quân; thừa tướng có một cô con gái muốn gả cho cậu con giai của tướng quân.

Tôn Kiên nổi giận mắng rằng:

- Đổng Trác là thằng nghịch thiên vô đạo, làm nhà vua nghiêng đổ, ta muốn giết cả chín họ nó đi để tạ thiên hạ, sao lại thèm kết thân với thằng giặc ấy! Tao tha chém cho mày, mày về mau đem dâng cửa ải cho tao. Mau mau! Chậm thì tao băm xương ra bây giờ.

Lý Thôi lủi thủi ra về, kể với Đổng Trác. Trác giận lắm, bèn hỏi Lý Nho.

Nho nói:

- Lã Ôn-hầu thua trận mới rồi, binh lính ngã lòng cả, không có bụng đánh nhau nữa. Nay nên kéo binh về Lạc-dương, đem vua sang Tràng-an, để ứng vào lời đồng dao. Theo lời đồng dao mấy hôm nay:

Mé tây một nhà Hán!
Mé đông một nhà Hán!
Hươu chạy về Tràng-an,
Mới khỏi phải gặp nạn.

Tôi xin phép giải thích như sau này:

Mé tây một nhà Hán,

nghĩa là: đức Cao Tổ ngày xưa đóng đô ở Tràng-an, truyền ngôi được mười hai vua.

Mé đông một nhà Hán,

nghĩa là: Vua Quang Vũ đóng đô ở Lạc-dương, cũng truyền ngôi được mười hai vua.

Thế là vận trời xoay vần. Nay thừa tướng lại nên về Tràng-an, mới khỏi lo được.

Trác mừng nói rằng:

- Ngươi không nói thì ta không biết!

Trác bèn đem Lã Bố về Lạc-dương, rồi hỏi ngay các quan văn vũ để bàn việc thiên đô.

Khi các quan đã đến đông, Trác nói rằng:

- Nhà Hán ta ở Lạc-dương hơn hai trăm năm nay, khí số đã hết. Ta xem bây giờ vượng khí ở Tràng-an. Vậy ta muốn rước vua về đó, các quan nên gấp rút sắm sửa hành trang.

Tư-đồ là Dương Bưu nói rằng:

- Tràng-an tàn phá đã lâu rồi. Nay bỗng dưng bỏ cả tôn miếu, hoàng lăng mà đi sang đó, tôi sợ rằng thiên hạ kinh động, mà thiên hạ động thì dễ, yên lại thì khó. Xin thừa tướng hãy xét cho kỹ.

Trác giận mắng Dương Bưu:

- Ngươi lại dám ngăn trở việc lớn nước nhà à?

Thái-úy là Hoàng Uyển cũng nói rằng:

- Dương tư-đồ nói thế phải đấy: trước kia trong lúc Vương Mãng thoán nghịch, kế đến Canh Thủy, Xích Mi nổi loạn, Tràng-an đã bị đốt cháy thành ra tro sỏi. Vả lại nhân dân xiêu tán, trăm phần không còn một hai phần. Tôi nghĩ không nên bỏ cả cung điện ở đây mà đi ra chỗ đất hoang ấy.

Trác nói:

- Ở Lạc-dương đây trộm giặc nhiều lắm, nhân dân loạn lạc đi mất cả. Ở Tràng-an có núi Hào, núi Hàm hiểm trở; lại gần Lũng-hữu, đá gỗ và gạch ngói dễ kiếm, sửa sang cung thất độ hơn một tháng thì xong, không ai được nói lôi thôi nữa.

Tư-đồ là Tuân Sảng lại can rằng:

- Hễ thừa tướng mà thiên đô đi, thì thiên hạ nhiễu động ngay.

Trác tức mình gắt rằng:

- Ta vì thiên hạ mà lo việc thiên đô, có tiếc gì những đứa tiểu dân, nó nhiễu động mặc nó.

Ngay hôm ấy Trác cách chức Dương Bưu, Hoàng Uyển, Tuân Sảng, giáng xuống làm thứ dân.

Trác trở ra lên xe, thấy có hai người đứng trước vái, trông ra thì là thượng-thư Chu Bật và hiệu-úy Ngũ Quỳnh. Trác hỏi có việc gì?

Bật nói:

- Nay nghe thừa tướng muốn thiên đô, nên chúng tôi lại can.

Trác giận nói:

- Trước tao nghe hai chúng bay, dùng thằng Viên Thiệu cho nó làm quan, bây giờ nó làm phản. Thế ra nó với chúng bay cùng một đảng.

Nói rồi Trác sai võ sĩ đem Chu Bật, Ngũ Quỳnh ra cửa chợ chém, rồi hạ lệnh thiên đô, hạn đến ngày hôm sau phải đi.

Lý Nho xui Đổng Trác:

- Nay tiền lương thiếu thốn nhiều, ở Lạc-dương nhiều nhà giầu, nên tịch thu cả, lấy của phát lương cho quân. Phàm bao nhiêu môn hạ Viên Thiệu ngày trước, đem giết cả đi để lấy của sẽ được vô số.

Trác lập tức sai năm nghìn quân thiết kỵ đi bắt cả những người nhà giầu ở Lạc-dương, cả thẩy mấy nghìn họ, mỗi người cắm một lá cờ lên đầu, để bốn chữ “PHẢN THẦN NGHỊCH ĐẢNG” rồi đem ra ngoài thành chém tuốt, bao nhiêu của cải lấy sạch.

Lý Thôi, Quách Dĩ, bắt hết cả dân Lạc-Dương, ước mấy trăm vạn, đưa sang Tràng-an, cứ mỗi một toán dân lại cho một đội quân đi đàn áp, người chết ở dọc đường không biết bao nhiêu mà kể. Đàn bà con gái đã vừa nhọc vừa đói khát, đau đớn trăm chiều, lại còn bị quân lính hãm hiếp; tiếng kêu khóc động trời chuyển đất. Người nào đi chậm, đằng sau có quân lính đốc thúc, quân lính cầm dao, giết người ngay ở giữa đường.

Đổng Trác sai phóng hỏa Lạc-dương

Lúc Trác ra đi, sai phóng hỏa đốt cả cửa nhà dân ở, và đốt cả tôn miếu, cung phủ, Nam, Bắc hai cung, lửa khói mù mịt; bao nhiêu cung cấm hóa ra tro cả.

Trác lại sai Lã Bố khai quật hết cả những lăng tiên hoàng, hậu phi để lấy vàng bạc châu báu. Quân sĩ thấy vậy cũng thừa thế đào mả các nhà quan, nhà dân.

Đổng Trác sai xếp những đồ vàng bạc vóc nhiễu được vài nghìn xe, rồi bức thiên tử và hậu phi phải sang Tràng-an.

Tướng Đổng Trác tên là Triệu Xầm, thấy Trác đã bỏ Lạc-dương, bèn dâng ngay cửa Dĩ-thủy cho Tôn Kiên. Kiên kéo binh vào trước. Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi vào cửa Hổ-lao; chư hầu cũng dẫn quân vào cả.

Tôn Kiên đi đến Lạc-dương thấy trong thành lửa cháy ngùn ngụt, ngọn lửa bốc lên tận trời; dưới đất khói đen mù mịt. Trong một quãng hai ba trăm dặm, tịnh không có tiếng gà kêu chó cắn, bèn sai quân vào cứu hỏa.

Các chư hầu đến đóng quân mã ở trên đất hoang. Tào Tháo đến thấy Viên Thiệu cũng ở đấy bèn hỏi rằng:

- Nay Đổng tặc đã kéo về Tràng-an rồi, nên thừa thế mà đuổi theo bắt nó mới phải. Bản-sơ lại đóng binh ở đây, là ý làm sao?

Thiệu nói:

- Chư hầu đều mỏi mệt cả, đuổi theo tôi sợ không được việc gì.

Tháo lại nói:

- Thằng giặc Đổng nó đốt cả cung thất, nó ăn hiếp vua, bắt vua dời ngôi đi; trong nước rối động, dân không biết theo ai. Ấy là lúc trời làm nó mạt đó, nhân lúc này chỉ đánh một trận là yên thiên hạ, sao các ông không đánh?

Các chư hầu đều nói:

- Không nên khinh động.

Tháo giận nói rằng:

- Đồ trẻ con cả, không đáng cùng mưu đồ việc lớn.

Nói rồi tự dẫn hơn một vạn quân, sai Hạ hầu Đôn, Hạ hầu Uyên, Tào Nhân, Tào Hồng, Lý Điển, Nhạc Tiến sớm khuya đuổi theo Đổng Trác.

Khi Đổng Trác đi đến Vinh-dương, Thái-thú là Từ Vinh ra tiếp.

Lý Nho nói:

- Thừa tướng mới đi khỏi Lạc-dương, tôi sợ có quân đuổi theo. Nên sai Từ Vinh phục quân ở bên cạnh núi ngoài thành; hễ có binh đuổi theo đi qua đó cứ để cho đi, đợi khi nào đi khỏi chỗ quân phục, trong này ta đánh trở ra, nó tất thua chạy, bấy giờ Vinh sẽ đánh chẹn đường, còn quân đi sau tất không dám đuổi nữa.

Trác nghe kế ấy, sai Lã Bố đem tinh binh đi chặn hậu.

Bố đang đi qua có một toán quân Tào Tháo sấn đến. Bố cười nói rằng:

- Không ra ngoài được kế Lý Nho!

Bố đem quân mã bày dàn. Tào Tháo tế ngựa lên gọi to:

- Nghịch tặc! Bay bức thiên tử và đem trăm họ đi đâu?

Lã Bố mắng rằng:

- Thằng phản chủ kia, sao dám nói càn?

Hạ hầu Đôn vác giáo nhảy ngựa, xông thẳng vào để đâm Lã Bố. Đôn với Bố đánh nhau được vài hợp, Lý Thôi dẫn một đội quân từ bên tả kéo ra. Tháo lại sai Hạ hầu Uyên ra địch. Lúc bấy giờ lại thấy ở bên hữu có tiếng reo, Quách Dĩ kéo quân ra. Tháo sai Tào Nhân ra địch, nhưng đằng kia ba mặt quân mã đánh dồn lại, thế khó đương nổi. Hạ hầu Đôn chống với Lã Bố không lại, phi ngựa chạy về. Bố thúc quân vào đánh gấp. Quân Tháo thua chạy kéo về Kinh-dương. Khi chạy đến dưới sườn núi, bấy giờ đã canh hai, trăng sáng như ban ngày, Tháo sắp sửa hội quân lại, làm bếp thổi cơm ăn, bỗng nghe thấy bốn mặt tiếng reo ầm ầm; quân phục của Từ Vinh xông ra. Tào Tháo vội vàng tế ngựa cướp đường chạy trốn; không ngờ gặp ngay Từ Vinh, lại quay đầu chạy. Vinh giương cung bắn một phát tên trúng ngay vào vai Tháo. Tháo vừa đeo tên vừa chạy; chạy qua một rặng núi, có hai tên lính phục trong đám cỏ, trông thấy ngựa Tháo đi đến, hai ngọn giáo cùng phóng ra, tin phải ngựa Tháo, ngựa ngã, Tháo cũng ngã, bị chúng bắt được, may đâu một tướng vừa tế ngựa đến, múa dao chém chết hai tên lính, cứu được Tào Tháo.

Tào Hồng. Tranh minh họa đời Thanh.

Tháo trông xem ai thì là Tào Hồng. Tháo bảo Hồng rằng:

- Thôi! Ta đành chết ở đây, hiền đệ nên trốn đi mau.

Hồng nói rằng:

- Xin ngài lên ngựa ngay. Tôi tình nguyện đi bộ.

Tháo hỏi:

- Giặc đuổi đến nơi, ngươi làm thế nào?

Hồng nói:

- Ông cứ đi. Thiên hạ có thể không có tôi, nhưng không thể không có ông!

Tháo nói:

- Ta nếu lại được sống, thực là nhờ ngươi.

Tháo lên ngựa. Hồng cởi áo giáp, cắp dao chạy theo sau.

Chạy độ đến canh tư, trông thấy trước mặt có một con sông to, chẹn mất đường đi. Đằng sau nghe thấy tiếng reo hò đã đến nơi. Tháo nói rằng:

- Thôi! Mệnh ta đến thế này, sống sao được nữa.

Hồng kịp vực Tháo xuống ngựa, cởi cả áo bào ra, cõng Tháo lội qua sông. Vừa sang đến bờ sông bên kia, quân đuổi vừa đến, tên bắn qua sông như mưa. Tháo cứ mặc cả quần áo ướt lướt thướt mà chạy, chạy mãi đến mờ mờ sáng, vừa chạy được hơn ba mươi dặm. Đến dưới gò đất tạm ngồi nghỉ hơi một chốc.

Bỗng nghe có tiếng reo, một toán quân mã kéo lại, thì ra Từ Vinh cứ bên kia sông chạy theo lên mạn trên, sang đò đuổi kịp.

Trong khi Tháo đương hoảng hốt, Hạ hầu Đôn, Hạ hầu Uyên vừa đem vài mươi người lính kỵ đến, quát to lên rằng:

- Từ Vinh, chớ được hại chủ ta!

Vinh xông đến đánh Hạ hầu Đôn. Đôn vác giáo đâm Vinh ngã xuống ngựa, rồi đánh tan quân Vinh. Đằng sau, Tào Nhân, Lý Điển, Nhạc Tiến cũng dần dần tìm đến, ra mắt Tào Tháo, nửa lo nửa mừng. Thu thập tàn quân còn độ năm trăm kéo về Hà-nội.

Đây nói ở Lạc-dương, các chư hầu chia quân đóng trại. Tôn Kiên cứu tắt lửa ở trong cung, đóng quân trong thành, đặt trướng ngay trên nền đền Kiến-chương, rồi sai quân quét dọn những gạch ngói ở các cung điện. Phàm những lăng tẩm mà Đổng Trác đã khai quật lên, Kiên sai chôn cất lại cả. Cất ba gian điện, lợp cỏ ở trên nền nhà Thái miếu, đặt linh vị các vua, giết trâu mổ bò, mời các chư hầu đến tế. Tế xong rồi, các tướng ai về trại ấy.

Kiên về trại, đêm hôm ấy trăng sao vằng vặc, Kiên cầm thanh kiếm ra sân; ngửng mặt lên xem thiên văn, thấy trong tòa Tử-vi có khí trắng mờ mờ, Kiên than rằng:

- Đế-tinh không được tỏ, cho nên tặc thần loạn nước, muôn dân phải lầm than, kinh thành không còn gì nữa.

Vừa nói, rỏ nước mắt khóc.

Tôn Kiên tìm thấy Ngọc tỷ truyền quốc.

Bên cạnh có tên lính trỏ tay bảo Kiên rằng:

- Kia, ở phía nam điện này có hào quang ngũ sắc, từ dưới đáy giếng bốc lên.

Kiên liền sai quân sĩ đốt đuốc xuống giếng tìm xem. Một lát quân mò đem lên được một cái thây người đàn bà, trông ra chết đã lâu ngày nhưng chưa nát; ăn mặc cung trang, dưới cổ đeo một cái túi gấm; mở ra xem trong có một cái hộp nhỏ sơn son khóa bằng vàng; mở ra thấy một cái ấn bằng ngọc, vuông bốn tấc, trên núm dấu chạm năm con rồng; bên cạnh có sứt một miếng lấy vàng bịt lại; mặt dấu khắc tám chữ triện: “THỤ MỆNH VU THIÊN, KÝ THỌ VĨNH XƯƠNG”. (Chịu mệnh của trời, sống lâu và thịnh vượng mãi).

Kiên được ấn ngọc ấy, hỏi Trình Phổ, Phổ nói:

- Đấy là ngọc tỷ truyền quốc. Ngày xưa, Biện Hòa ở dưới núi Kinh-sơn trông thấy chim phượng hoàng đậu ở trên hòn đá, đem đá ấy về tiến vua Văn Vương nước Sở. Lúc phá đá ra trong có hòn ngọc. Đến đời nhà Tần, năm thứ 26 (221 trước công nguyên) sai thợ ngọc giũa ra làm ấn quốc bảo. Tám chữ triện viết ở trên mặt ấn là chữ Lý Tư. Năm thứ 28, vua Thủy Hoàng đi tuần đến hồ Động-đình, gặp sóng to gió lớn, thuyền sắp đắm, vua vội vàng ném ngọc tỷ ấy xuống hồ mới không việc gì. Đến năm thứ 38, Thủy Hoàng đi tuần đến núi Hoa-âm, đương đi gặp một người tay cầm ngọc tỷ đứng đón đường, đưa cho quân hầu nói rằng:

- Đem cái này về trả Tổ-long[1].

Nói xong rồi biến mất. Ấn ngọc ấy lại về nhà Tần.

Đến năm sau, Thủy Hoàng mất. Tử Anh đem ngọc tỷ dâng vua Cao Tổ nhà Hán. Đến lúc Vương Mãng khởi loạn, hoàng hậu vua Hiếu Nguyên cầm ngọc ấy đánh Vương Tầm, Tô Hiến sứt mất một góc, phải lấy vàng bịt vào. Vua Quang Vũ được ấn ngọc ấy ở Nghi-dương, truyền đến bây giờ. Khi thập thường-thị làm loạn, bức đem Thiếu-đế ra Bắc-mang, lúc về thấy mất ngọc tỷ.

Nay chúa công lại tìm được, tất là trời cho chúa công đó. Triệu này là triệu tướng quân làm vua. Vậy tướng quân không nên ở lâu chốn này. Nên về ngay Giang-đông để toan việc lớn!

Tôn Kiên nói:

- Ngươi nói chính hợp ý ta. Ngày mai ta sẽ cáo bệnh về.

Bàn định xong, Kiên truyền quân sĩ không được nói hở cho ai biết. Không ngờ trong đám quân sĩ có một người cùng làng với Viên Thiệu, thấy việc đó muốn nhân dịp làm đường tiến thân, liền đêm hôm ấy lẻn sang báo với Viên Thiệu.

Thiệu thưởng cho người ấy rồi giữ lại ở trong quân.

Hôm sau Tôn Kiên sang trại Viên Thiệu để cáo từ, nói rằng:

- Tôi hơi khó ở, xin phép về Tràng-sa.

Thiệu cười nói rằng:

- Tôi đã biết cái bệnh ông rồi. Bệnh ấy là cái bệnh cái ngọc tỷ!

Kiên thất sắc, hỏi rằng:

- Ai nói với ông thế?

Thiệu nói:

- Nay chúng ta vì nước đánh giặc. Ngọc tỷ là của báu triều đình. Ông bắt được, nên để ở chỗ minh chủ, đợi khi nào giết được Đổng Trác, thì đem trả lại nhà vua, nay ông giấu ấn ấy mà đi, ông định để làm gì?

Kiên cứ chối:

- Ngọc tỷ có đâu lại ở tôi?

Thiệu nói:

- Cái gì mò được dưới giếng đền Kiến-chương, bây giờ ở đâu?

Kiên nói:

- Tôi có đâu của ấy. Cưỡng nhau làm gì thế!

Thiệu nói:

- Mau mau bỏ ra đây, kẻo vạ đến thây bây giờ!

Kiên trỏ tay lên trời thề rằng:

- Tôi mà được của ấy, lại giấu đi, thì không được vẹn tuyền, sẽ chết dưới mũi tên hòn đạn.

Các tướng đều nói rằng:

- Văn-đài đã thề như thế, tất không được ngọc tỷ.

Thiệu gọi người làm chứng ra, hỏi Tôn Kiên rằng:

- Lúc mò được ngọc, có người này ở đấy không?

Viên Thiệu đòi ngọc tỷ

Kiên giận lắm, rút ngay gươm ra, định chém người ấy. Thiệu cũng rút gươm ra bảo rằng:

- Hễ mày chém nó thì thực là mày dối tao.

Đứng sau lưng Viên Thiệu, Nhan Lương, Văn Sú cũng rút gươm ra. Sau lưng Tôn Kiên, Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Dương, cũng cầm dao lăm lăm ở tay. Các tướng đều xúm lại can đôi bên. Kiên lập tức trở ra, lên ngựa, về nhổ trại bỏ Lạc-dương đi.

Thiệu giận lắm, liền viết một lá thư, sai người tâm phúc ngay đêm hôm ấy đem sang Kinh-châu, đưa cho quan thứ-sử là Lưu Biểu, sai Biểu chẹn đường Kiên lấy lại ngọc tỷ.

Hôm sau có người báo rằng:

- Tào Tháo đuổi Đổng Trác đánh nhau ở Vinh-dương, thua to trở về.

Thiệu bèn sai người đón Tháo vào trại, mở tiệc rượu cùng với Tháo giải phiền. Trong khi uống rượu Tào Tháo than rằng:

- Ta trước kia mới khởi nghĩa lớn, cốt là định vì nước trừ hại. Các ông đã có bụng trượng nghĩa mà đến với tôi, bản tâm tôi muốn phiền Bản-sơ, đem quân Hà-nội sang đóng ở Mạnh-tân; còn các quân Toan, Tảo cứ giữ vững Thành-cao, giữ cửa ải Ngao-xương, ngăn Hoàn Viên về Đại-cốc, khống chế những nơi hiểm yếu. Còn Công-lộ đem quân Nam-dương sang đóng ở Đan, Triết, tiến vào cửa Vũ-quan, để cho cái uy thế ở Tam phụ[2] to lên. Nơi nào cũng thành cao, hào sâu, không đánh nhau, chỉ làm nghi binh, bảo cho thiên hạ trông rõ hình thế, cho ta là kẻ thuận đi trừ kẻ gian, thì việc lớn có thể định ngay được. Thế mà các ông dùng dằng, mãi chẳng tiến binh, làm mất cả lòng mong đợi của thiên hạ, tôi lấy làm xấu hổ quá!

Lũ Thiệu không ai nói câu gì. Một chốc tiệc tan.

Tháo thấy lũ Thiệu mỗi người một bụng, nghĩ cũng không làm xong được việc, bèn tự kéo quân về Dương-châu.

Công tôn Toản thấy tình cảnh thế, cũng chán. Một bữa bảo với Lưu, Quan, Trương:

- Tôi xem Viên Thiệu không làm nên được trò gì đâu. Lâu tất sinh biến. Chúng ta hãy về.

Bèn nhổ trại về phía bắc. Đi đến huyện Bình-nguyên, Toản sai Lưu Bị làm tướng ở đó, giữ lấy đất, nuôi lấy quân.

Thái-thú Duyện-châu Lưu Đại, thiếu lương hỏi vay thái-thú Đông-quận là Kiều Mạo. Mạo không cho vay, Đại đem quân xông vào dinh Mạo, giết Mạo đi rồi thu hết cả quân lương.

Viên Thiệu thấy chư hầu phân rẽ nhau ra cả, cũng kéo quân về Quan-đông.

Thứ-sử Kinh-châu là Lưu Biểu, bắt được thư của Viên Thiệu xin đem quân chẹn đường Tôn Kiên, liền sai ngay Khoái Việt và Sái Mạo dẫn một vạn quân ra đón đường đánh Kiên.

Lưu Biểu. Tranh minh họa đời Thanh.

Lưu Biểu, tên chữ là Cảnh Thăng, quán ở huyện Bình-nguyên, đất Sơn-dương; cũng là tôn thất nhà Hán. Lúc còn nhỏ, Biểu hay tìm những danh sĩ kết bạn. Bấy giờ có tiếng đồn rằng: Giang-đông bát tuấn (đất Giang-đông có tám người giỏi). Trong tám người ấy thì một người là Lưu Biểu, còn bảy người nữa là: 1) Trần Tường, 2) Phạm Phang, 3) Khổng Giực, 4) Phạm Khang, 5) Đàn Phu, 6) Trương Kiệm, 7) Xầm Hĩnh.

Biểu cùng với bảy người ấy kết làm bạn, nhưng ngoài ra còn có mấy người phù tá. Một là Khoái Lương người ở Diên-binh, hai là Khoái Việt cũng người Diên-binh, ba là Sái Mạo người ở Tương-dương.

Khoái Việt, Sái Mạo dẫn một vạn quân ra chẹn đường. Tôn Kiên vừa đến đó, Khoái Việt bày trận rồi nhảy ngựa ra.

Kiên thấy Việt, hỏi rằng:

- Khoái Việt cớ sao chẹn đường ta?

Việt nói:

- Ngươi đã làm tôi nhà Hán, sao được giấu ngọc tỷ truyền quốc? Đưa ngay ra đây, ta sẽ cho đi.

Kiên tức lắm, sai ngay Hoàng Cái ra đánh. Sái Mạo múa dao lại địch. Được vài hợp, Cái hoa ngọn roi, đánh trúng ngay miếng giáp che ngực Mạo. Mạo quay đầu ngựa chạy. Kiên thừa thế đuổi đánh khỏi cửa ô. Lúc bấy giờ, ở trong núi bỗng thấy chiêng trống khua rầm lên. Thì ra Lưu Biểu vừa dẫn quân đến. Kiên ngồi trên ngựa chào hỏi tử tế, rồi nói với Lưu Biểu rằng:

- Ta với Cảnh-thăng là người nước lân bang với nhau. Sao Cảnh-thăng lại nỡ tin thư Viên Thiệu mà xử tệ với ta làm vậy?

Biểu nói:

- Mày giấu quốc bảo đi, muốn làm phản à!

Kiên lại thề:

- Ta mà có của ấy ở trong mình xin chết ở dưới tên đạn.

Biểu nói:

- Người muốn cho ta tin, phải để cho ta khám cả những đồ đi đường.

Kiên nổi khùng, mắng Lưu Biểu rằng:

- Tài sức mày thấm vào đâu, mà dám khinh tao!

Hai bên sắp sửa giao binh đánh nhau. Lưu Biểu lui ngay. Kiên thấy vậy thả ngựa xấn lại. Bấy giờ quân phục ở sau hai rặng núi kéo ồ ra; sau lưng Khoái Việt, Sái Mạo sập lại, vây bọc lấy Tôn Kiên ở giữa trận.

Thế rõ thực là:

Ngọc tỷ đem về không dụng được,
Lại nhân của ấy hóa lôi thôi!

Chưa biết Tôn Kiên làm thế nào mà thoát được thân. Xem hồi sau sẽ rõ.

   




Chú thích

  1. Tức là Tần Thủy Hoàng.
  2. Kinh-chiêu (Kinh-đô), Bằng-dực, Phù-phong. Ba nơi giúp đỡ lẫn nhau.