50%

Thăm mả cũ bên đường

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà,
Đường xa, người vắng, bóng chiều tà.
Một dãy lau cao làn gió chạy,
Mấy cây thưa lá sắc vàng pha.

Ngoài xe trơ một đống đất đỏ,
Hang hốc đùn trên đám cỏ gà.
Người nằm dưới mả, ai ai đó,
Biết có quê đây, hay vùng xa?

Hay là thuở trước kẻ cung đao,
Hám đạn, liều tên, quyết mũi dao.
Cửa nhà xa cách, vợ con khuất,
Da ngựa[1] gói bỏ lâu ngày cao?

Hay là thuở trước kẻ văn chương,
Chen hội công danh nhỡ lạc đường.
Tài cao, phận thấp, chí khí uất,
Giang hồ mê chơi, quên quê hương?

Hay là thuở trước khách hồng nhan,
Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen.
Phong trần xui gặp bước lưu lạc,
Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn?

Hay là thuở trước khách phong lưu,
Vợ con đàn hạc[2], đề huề theo.
Quan san[3] xa lạ, đường lối khó,
Ma thiêng nước độc, phong sương nhiều?

Hay là thuở trước bậc tài danh,
Đôi đôi lứa lứa cũng linh tinh.
Giận duyên tủi phận hờn ân ái,
Đất khách nhờ chôn một khối tình?

Suối vàng sâu thẳm biết là ai,
Mả cũ không ai kẻ đoái hoài.
Trải bao ngày tháng trơ trơ đó,
Mưa dầu nắng dãi, trăng mờ soi.

Ấy thực quê hương con người ta,
Dặn bảo trên đường những khách qua
Có tiếng khóc oe thời có thế,
Trăm năm ai lại biết ai mà!

   




Chú thích

  1. Do một câu nói của Mã Viện có nghĩa: người chiến sĩ bỏ thân trên chiến trường, da ngựa bọc thây.
  2. Dịch chữ cầm hạc là cái đàn và con chim hạc, lấy ở tích Triệu Thanh Hiến đời Tống đi nhậm chức, chỉ mang theo hai thứ ấy.
  3. Cửa ải và núi non, chỉ cảnh đường xa.