Thảo thử hịch

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

1. Tượng mảng:[1] Lẽ trời sinh vật; Vật ấy nhiều loài.

2. Lấy câu thuận tính làm lành; Thấy chữ nghịch-thường mà ngán.

3. Nhỏ là loài ong-kiến, còn biết nghĩa quân-thần; Lớn là loài hổ-lang, cũng niệm tình phụ-tử.

4. Kìa như thước báo tai, cưu báo hỷ[2], đời cũng nhờ lành dữ đem tin; Nọ như khuyển thủ dạ, kê tư thần[3], người còn cậy sớm khuya an giấc.

5. Lò tạo-hóa nhúm-nhen khắp vật, vật nào hay khuấy-rối sự nhà; Thợ hóa-công đúc-nắng nhiều loài, loài nào dám xoi hao mạch nước?

6. Nay có loài chuột: Lông mọc xồm-xàm; Tục kêu xù, lắt.

7. Tính hay ăn vặt; Lòng chẳng kiêng-dè.

8. Chỗ ở-ăn hang lỗ nhiều bề; Đường qua lại đào ra hai ngách.

9. Nghe hơi động vội-vàng chạy mất, nhát quá mẹ cheo; Chờ đêm khuya sẽ lén-lút nhau, liếng hơn cha khỉ.

10. Gọi danh-hiệu: chuột xạ, chuột lắt, chuột xù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên; Tra quán-chỉ[4]: ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở ngòi, bậu-bạn non sông lắm lối.

11. Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu; Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung-lăng đà lắm lúc.

12. Vả sáu-mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm; Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa.

13. Cớ sao lại đem lòng quỷ-quái? Cớ sao còn làm thói gian-tham?

14. Túi Đông-pha thường bữa tha gừng; Ruộng Nam-quách ghe phen cắn lúa.

15. Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang; Nệm mền của chúng che thân, cắn nát lại tha vào lỗ.

16. Hoặc nằm ngửa cắn đuôi tha trứng vịt, gây nên thằng tớ chịu đòn oan; Hoặc leo dây ngóng cổ gặm giò heo, để án con đòi mang tiếng khổ.

17. Vậy cũng gọi mình hay ngũ kỵ[5]; Vậy cũng khoe ngồi trước tam tài[6].

18. Chẳng xét mình vò nuốt dưới cầu; Lại quen lần mò ben vách.

19. Sách Lỗ-sử biên câu thực giác, vì miệng ai nên vua lỗi đạo thờ trời; Thơ Quốc-phong để chữ thực miêu[7], vì miệng ai cho nên dan xa lăng bỏ đất.

20. Ghe phen trách quần hư áo lủng, vì miệng ai cho nên chồng vợ giận nhau; Nhiều chỗ than vách ngã tường xiêu, vì miệng ai cho nên cha con đứt bẩn.

21. Nền xã-tắc[8] là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ, đào hang; Chốn miếu-đường là chỗ thanh-tán, cớ chi ngươi cắn màn, cắn sáo.

22. Kẻ trinh-nữ ghét thằng cuồng-bạo, cũng còn mang tiếng thử dâm; Án Long-đồ[9] tra đứa gian-tà, hãy còn mắc cái câu thử thủ[10].

23. Gối ngõa chú Nghiêu-phu[11] đà đến bể, khen cho quỷ-quái chẳng chừa; Gây phi long Linh-kiết đã tưng-bừng, sao hãy yêu-tinh không gớm.

24. Nham độn mười-hai ngôi tướng, cho hay thần hậu thật tướng gian; Diễn cầm bốn bảy vì sao[12], phải biết hư-nhật là sao dữ.

25. Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử[13] cục cứt ra cũng nhọn hai đầu; Báu xót chi manh áo thử-cầu[14], tấm da lột không đầy ba tấc.

26. Tuy là tướng hữu bì hữu chất[15]; Thật là loài vô lễ vô nghi.

27. Luận tội kia đã đáng phân thi[16]; Thứ tay nọ cũng vì kiêng vật[17].

28. Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương; Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

29. Ngao-ngán bấy cái thân chuột thúi, biết ngày nào ô-thước[18] phanh-phui; Nực cười thay cái bụng chuột tham, uống bao thuở Hoàng-hà ráo cạn.

30. Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm; Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

31. Tội dường ấy đã nên ác quá; Ta tới đây há dễ nhiêu dung.

32. An tiên-phuông nấy gã rắn rồng; Phù tập-hậu sai chim bả-cắc.

33. Sắm-sửa binh sương giáp sắt; Trau-giồi ngựa gió xe trăng.

34. Giống trống sấm xuất binh; Phất cờ lau tập trận.

35. Đuốc Điền Đan sắm sẵn, để phòng khi un-đốt ngạch u-vi; Đèn Lý Bạch đái tùy[19] đặng chờ thuở xét soi hang uất-khúc.

36. Hàng hàng bố liệt thương đao; Nhập sào-huyệt phá hồ lỗ[20] chuột.

37. Phải nghe ta dặn, sắm-sửa đủ đồ: Cuốc xuổng đào hang; Phảng mai chận ngách.

38. Trả, trách, nồi-niêu rửa sạch, thượng kỳ: phù địch khái chi tâm[21]; Tiêu, hành, sả, ớt muối đâm, thứ dĩ: tạ chúng nhân chi khẩu[22].

39. Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành; Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục-tặc.

40. Bốn phương đều ngợi chữ thăng-bình; Thiên-hạ cũng vui câu án đổ.

   




Chú thích

  1. Nghe rằng.
  2. Chim thước báo điềm dữ, chim cưu báo điềm vui.
  3. Chó giữ đêm, gà nhớ sáng.
  4. Quán-chỉ: Chỗ ở.
  5. Ngũ kỵ: Năm nghề (bay, leo, đi dạo, nằm hang, chạy).
  6. Tam tài: Ba đạo dựng lên trời, đất và người. Trời sinh ở hội tí.
  7. Thực miêu: Cắn phá lúa miêu.
  8. Xã-tắc: Kinh Lễ, thiên Nguyệt-lịnh chép: Con vua Cung-công là Câu-long hay trị viêc đất việc nước nên tế làm thần xã. Con vua Liệt-sơn tên Vãng-trụ, hay trồng lúa, nên sau tế làm thần tắc. Xã-tắc nói chung là việc chính-trị và sinh-hoạt của một nước.
  9. Bao Công.
  10. Do câu: Thử thủ lưỡng đoạn: Đầu chuột nên hai thế. Tích đời Hán Võ-đế, Điền Phân giận Hàn An-quốc làm chứng vụ Trường Nhụ nên nói An-quốc là đầu chuột nên mới hai đầu.
  11. Thiệu Khang Tiết
  12. Bốn bảy là hăm tám. Tức nhị-thập bát-tú; hăm tám vì tinh-tú.
  13. Chuột yêu nghiệt.
  14. Áo da chuột.
  15. Có da có vóc.
  16. Chia xẻ thân-thể.
  17. Ném chuột e bể đồ.
  18. Quạ diều
  19. Mang theo.
  20. Giặc cướp.
  21. Lấy bộ đồ lòng của kẻ địch.
  22. Làm cho thích miệng mọi người.