Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

平生膽氣鶚橫秋,
翰墨場中一戰收。
茅屋玉堂皆有命,
濁涇清渭不同流。
老逢昭代知何補,
身落窮山笑拙謀。
檢點年年貧活計,
茶甌詩卷伴湯休。

Bình sinh đảm khí ngạc[1] hoành thu,
Hàn mặc trường trung nhất chiến thu.
Mao ốc ngọc đường[2] giai hữu mệnh,
Trọc Kinh thanh Vị[3] bất đồng lưu.
Lão phùng chiêu đại tri hà bổ,
Thân lạc cùng sơn tiếu chuyết mưu.
Kiểm điểm niên niên bần hoạt kế,
Trà âu, thi quyển bạn Thang Hưu[4].

Chí khí dũng cảm thuở bình sinh như chim ngạc bay ngang trời thu,
Trong trường bút mực, chỉ một trận là được.
Nhà tranh hay nhà ngọc, đều có số mệnh,
Sông Kinh đục, sông Vị trong, vốn không chảy cùng dòng.
Già gặp thời sáng sủa, biết chẳng ích gì,
Thân rơi vào núi thẳm, cười mình mưu vụng.
Hàng năm kiểm điểm lại cái sinh kế nghèo,
Vẫn âu trà, cuốn thơ, làm bạn với Thang Hưu.

   




Chú thích

  1. Chim ngạc: một loài chim bắt cá ở biển, còn gọi là thủy ưng hay thư cưu
  2. Ngọc đường: nhà ngọc. vua Tống Thái Tông tặng cho viện Hàn lâm thời đó hai chữ "Ngọc đường". ở đây chỉ cảnh hiển đạt của cuộc đời làm quan
  3. Sông Kinh, sông Vị: sông Kinh phát nguyên từ Kê Ðầu Sơn thuộc vùng Nguyên Châu; sông Vị phát nguyên từ Ô Thử Sơn thuộc vùng Vị Châu. Hai sông này gặp nhau ở Cao Lăng, mới rõ nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong. Hình tượng này dùng trong thơ thường được hiểu theo nghĩa bóng
  4. Chưa rõ là ai (Theo Từ nguyên, có thầy tu tên là Thích Huệ Hưu giỏi văn chương, một lần vua Tống Thế Tổ gặp bảo hoàn tục và cho làm tòng sự ở Dương Châu. Phải chăng Thang Hưu tác giả nói là Thích Huệ Hưu?)