Trang:Viet Nam Su Luoc.djvu/266

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trang này đã được hiệu đính, nhưng cần phải được phê chuẩn.



Chính-phủ nước Pháp bèn sai ông Leheur de Ville-sur-Arc, đem chiếc chiến-thuyền « Catinat » vào cửa Đà-nẵng rồi cho người đem thư lên trách Triều-đình Việt-nam về việc giết đạo. Sau thấy quan ta lôi-thôi không trả lời, quân nước Pháp bèn bắn phá các đồn-lũy ở Đà-nẵng, rồi bỏ đi. Bấy giờ là tháng 8 năm bính-thìn ( 1856 ) là năm Tự-đức thứ 9.

Được 4 tháng sau thì sứ-thần nước Pháp là ông Montigny ở nước Tiêm-la sang, để điều-đình mọi việc. Chiếc tàu của ông Montigny đi vào đóng ở cửa Đà-nẵng, rồi cho người đưa thư lên nói xin cho người nước Pháp được tự-do vào thông thương, đặt lĩnh-sự ở Huế, mở cửa hàng buôn-bán ở Đà-nẵng, và cho giáo-sĩ được tự-do đi giảng đạo. Trong bấy nhiêu điều, triều-đình nước ta không chịu điều nào cả.

Bấy giờ bên nước Pháp đã lập lại đế-hiệu, cháu ông Nã-phá-luân đệ-nhất là Nã-phá-luân đệ-tam lên làm vua. Triều-chính lúc bấy giờ thì thuận đạo, lại có bà Hoàng-hậu Eugénie cũng sùng-tín. Vả chăng khi chiếc tàu « Catinat » vào cửa Đà-nẵng, có ông giám-mục Pellerin trốn được xuống tàu rồi về bệ kiến Pháp-hoàng, kể rõ tình-cảnh các người giảng đạo ở Việt-nam.

Ông P. Cultru chép ở trong sách Nam-kỳ sử-ký ( Histore de la Cochinchine ) rằng : lúc bấy giờ có nhiều người quyền-thế như ông chủ-giáo thành Rouen là Mgr de Bonnechose và có lẽ cả bà Hoàng-hậu cũng có nói giúp cho ông giám-mục Pellerin. Bởi vậy Pháp-hoàng mới quyết ý sai quan đem binh-thuyền sang đánh nước ta. Lại nhân vì những giáo-sĩ nước I-pha-nho cũng bị giết, cho nên chính-phủ hai nước mới cùng nhau trù-tính việc sang đánh nước Việt-nam. Ấy cũng tại vua quan mình làm điều trái đạo, giết-hại những người theo đạo Gia-tô cho nên mới có tai-biến như vậy.

Tháng 7 năm mậu-ngọ ( 1858 ) là năm Tự-đức thứ 11, hải-quân Trung-tướng nước Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu I-pha-nho cả thảy 14 chiếc, chở hơn 3.000 quân của hai nước vào cửa Đà-nẵng, bắn phá các đồn lũy, rồi lên hạ thành An-hải 安 海 và thành Tôn-hải 尊 海.