50%

Truyền kỳ mạn lục/11

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

CHUYỆN YÊU-QUÁI Ở XƯƠNG-GIANG


phong-châu (Bạch-hạc — Vĩnh-yên), có người họ Hồ tên là Kỳ-Vọng. Cuối đời họ Hồ, Kỳ-Vọng đi buôn-bán, ngụ ở thành Xương-giang (Yên-dũng — Bắc-giang), rồi ốm chết ở thành ấy. Người vợ nghèo kiết, không có tiền để đưa ma chồng về quê được, phải đem bán người con gái nhỏ là Thị-Nghi cho một nhà phú-thương họ Phạm. Người con gái lớn lên, khá có tư sắc, họ Phạm yêu-mến rồi cùng nàng tư thông. Vợ Phạm biết việc ấy, bèn mượn cớ khác đánh Thị-Nghi một trận đau quá đến chết rồi đem chôn ở bên cạnh làng. Sau đấy mấy tháng, hồn Thị-Nghi hưng yêu tác quái, biến huyễn đủ vẻ, hoặc nhập vào chị ả buôn tương, hoặc ốp vào cô nàng bán rượu, người có vai-vế thì bị dâm sát, người có tiền-của thì bị bóc lột, suốt một giải đường mười dặm, người ta đều phải đi trưa về sớm, bảo nhau thấy gái đẹp chớ có trêu vào. Sau người làng đó biết là hồn Thị-Nghi làm tai làm quái, bèn đào mả vứt xương xuống sông, từ đấy việc quấy-nhiễu cũng hơi bơn-bớt.

Triều Lê sau khi hỗn nhất, có một viên quan họ Hoàng người ở Lạng-giang đi xuống Trường-an (kinh-đô) lĩnh chức, đỗ thuyền ở bên cạnh sông. Bấy giờ trăng tỏ sao thưa, bốn bề im lặng, chợt nghe thấy ở mỏm bãi cát đàng phía đông-nam, có tiếng khóc rất ai-oán. Chèo thuyền đến xem, thấy một người con gái tuổi 17, 18, mặc một cái áo lụa đỏ, đương ngồi trên đệm cỏ. Hoàng hỏi:

— Đêm sâu như vậy, tại sao mà cô khóc-lóc thế, khiến lòng sắt đá cũng phải ỉu-mềm đi.

Người con gái khép-nép, lau ráo nước mắt rồi nói:

— Thiếp vốn người ở Phong-châu, cha mẹ làm nghề buôn hàng tấm. Không may bị quân cường-đạo giết người cướp của, cha mẹ thiếp đều hồn chôn bụng cá, xương gửi lòng sông. Còn lại tấm thân yếu-ớt trơ-trọi này thoát khỏi miệng hùm, lần lên bờ sông, tìm vào nhà dân ở đậu. Hôm qua, nhân ra bờ sông hái dâu cho bà chú, chợt đi qua chỗ gặp nạn cũ, bất giác đau xót mà ngồi đây khóc-lóc đến giờ.

Hoàng nói:

— Cô đã bơ-vơ trơ-trọi, không chỗ tựa nương, nay tôi nhân đi chơi Trường-an, nếu cô muốn về kinh thì tôi cho xuống ngồi nhờ thuyền. Vả từ kinh về đến quê-hương nhà cô, thuận gió no buồm bất quá cũng chẳng là mấy chốc.

Người con gái lại khóc nói:

— Chiếc thân trôi nổi, nào có đáng tiếc gì đâu, chỉ hận một điều là hài cốt cha mẹ, chưa vớt lên được để đem về mai táng.

— Nếu nàng muốn thế tôi cũng chẳng quản gì bỏ một số tiền, vì nàng thu-thập những xương rơi đưa về cố-hương, đó cũng là một cái nhân-duyên trên bước đường gặp-gỡ.

Người con gái mừng-rỡ:

— Nếu vậy thật là lòng trời. Ngài quả giúp cho được như thế, thật là cái ơn cốt-nhục sinh tử. Thiếp dù có nát thân báo-đền cũng không dám quản.

Hoàng bèn thuê người giỏi lặn-lội, ngụp xuống đáy sông mò vớt hài cốt rồi chở đem xuống nam. Có lúc chàng lấy lời thử đùa-cợt nàng để dò xem ý tứ thế nào, nhưng nàng chống-cự lại rất xẵng. Hoàng càng yêu-quý và nể sợ.

Khi về đến kinh, Hoàng không đi lĩnh chức vội, lại ngược lên cửa tuân Bạch-hạc, đem hài cốt táng ở bên sông. Việc xong, một hôm nàng bảo với Hoàng rằng:

— Thiếp cùng chàng vốn chẳng hẹn-hò, bỗng nên gặp-gỡ. Nhưng trước kia vì cha mẹ chưa được mồ êm mả đẹp, cho nên phải chống lại những sự đùa-cợt của chàng. Nay việc đã viên-thành, vậy xin được đem mình hầu-hạ khăn lược. Vả lại chàng đi làm quan xa, giúp trong thiếu kẻ, vậy thiếp xin đương những công việc tảo tần.

Đã thành vợ chồng, tình-ái rất là thắm-thiết. Nàng lại cử-động rất hợp lễ, nói-năng biết lựa lời, họ-hàng bè-bạn, ai cũng đều khen-ngợi.

Làm quan được một tháng. Hoàng bỗng bị bệnh điên-cuồng hoảng-hốt, mê lịm đi không còn biết gì. Nàng sớm tối khóc-lóc thiết-tha không rời ra một bước. Song Hoàng thuốc không chịu uống, mạch không cho xem; ai đem bùa dấu đến thì Hoàng mắng nhiếc. Các thầy thuốc thầy cúng đều ngờ là có ma quỷ, nhưng cũng không biết làm thế nào, chỉ đành nhìn nhau mà thôi. Sau đó có một người khăn cũ giày rách, ăn mặc lôi thôi đi vào. Mọi người trông thấy cả cười thì người ấy nói:

— Các ông đều là tay hèn cả, ta đây mới chính là bậc thần y, chẳng những chữa được khỏi bệnh lại còn có thể khiến người mọc cánh thành tiên được nữa.

Hỏi đến phương-thuật thì biết chữa phong trị khí, thăm đến tay-nải thì có trần-bì phụ-tử. Hoàng bèn cười rồi đưa tay cho xem mạch. Người ấy nói:

— Không hề gì; chỉ có phủ tạng không điều-hòa, sinh ra mê-hoặc. Nên uống thang thuốc tiến thực để ăn được nhiều và làm nhiều cỗ bàn lễ thần cúng quỷ sẽ được vô sự.

Bèn lấy thuốc hòa vào trong một cái chai trắng rồi dốc cho Hoàng uống tất cả. Uống thuốc xong, Hoàng nôn mửa ra vài đấu bọt dãi rồi nằm thiếp đi. Người con gái cả giận, lấy gậy đập vỡ cái chai rồi mắng rằng:

— Anh chàng huyễn-thuật này ở đâu đến đây, ly-gián vợ chồng ta, chia rẽ nhà-cửa ta!

Người ấy lấy một đạo bùa ném ra, người con gái liền theo bùa mà ngã bổ nhào xuống đất, thành ra một đống xương trắng. Người ấy lấy nước nóng thất hương rót vào ngực Hoàng. Một lúc Hoàng tỉnh lại, hỏi những việc trước thì chẳng biết gì cả. Mọi người tranh nhau hỏi duyên-cớ, người ấy nói:

— Tôi chợt trông mặt ông này, thấy đầy những yêu khí, mà người con gái ấy, chính là gốc rễ tà-yêu. Ban đầu tôi phải nói lăng-nhăng để nàng coi thường lời tôi, rồi tôi mới có thể trổ tài ra được. Nếu không thì vị tất đã cho được ông ấy uống thuốc.

Mọi người đều kính-phục.

Bèn sai người đến bến sông Bạch-hạc đào ngôi mả táng ngày trước lên, thấy chỉ có mấy hòn máu tươi chứ chẳng có xương cốt đâu cả. Vừa toan nhặt lấy những hòn máu thì thoắt đã chẳng thấy đâu nữa. Người ấy than rằng:

— Cành lá tuy trừ nhưng gốc rễ còn chưa cắt được. Nếu không có thiên-binh thần tướng, trừ khử một cách ráo-riết, chỉ e lại mắc phải độc thủ thì thật rất nguy cho ông.

Sau đó hơn một tuần, Hoàng đương ban ngày nằm chơi, thấy hai người lính vào bắt đem đi, đến một chỗ chung quanh có tường bao bọc, trong có cung-điện trang-nghiêm, duy mái hành-lang bên tả bị xiêu đổ. Trên điện có một người đầu đội mũ miện, quát to lên rằng:

— Diêm-vương có chỉ, sai ta tra-xét cái án nhà ngươi đó.

Sai tả hữu lấy đưa cho chàng giấy bút, bắt phải cung khai. Hoàng nói:

— Tôi vốn nhà nghèo, may được đăng tên vào sổ sĩ-hoạn, xử mình không quắt-quéo, làm quan không tham-tàn, tội-trạng không rõ, chẳng dám tuân mệnh.

Nói chưa dứt lời, đã thấy người con gái ở với mình ngày trước từ mái hành-lang phía tả đi ra. Hoàng hiểu ra ngay, liền cầm bút cung rằng:

« Kính nghe:
Kinh Xuân-thu góp sự lạ, tuy đã nói, thần giáng đều biên[1].
Sách Dã-sử nhặt điều rơi, phàm vía mai, tinh đèn cũng chép[2].

Há bởi trước đặt-bày huyền-hoặc,
Cốt muốn người phòng bị tà-gian,
Cho nên Thái-Chân đốt sừng tê soi xuống vực sâu, Thủy-thần trách lóc[3].
Mã-Lượng viết bàn tay thò vào cửa sổ, quỷ vật kêu van[4].
Hoặc xua giống quái khiêng giường[5].

Hoặc giết con tinh thổi lửa[6].
Ấy kẻ sĩ cương-phương bao thủa chẳng sợ tà yêu,
Huống tòa đều hương lửa trăm năm, lại dong xú loại!
Như tôi,
Tính vốn thô-sơ,
Vận may hiển-đạt.
Tiêu-điều một chức, lạm ăn món bổng thay cầy
Tịch mịch nửa chăn, riêng nặng nỗi buồn lẻ bạn.
Ai biết dưới trăng gặp-gỡ,
Vốn vì kiếp trước nợ-nần.
Đem môi son má phấn làm tôi say-mê,
Rút nguyên-khí chân-tinh khiến tôi hao-tổn.
Nếu không gặp thần-y cứu chữa,
Sớm đã về chín-suối vật-vờ.
Xuống sông mà rằng không bắt cá, hồ dễ ai tin,
Lấy đức mà làm sự phạt tội, dám xin thương đoái ».

Tờ cung tiến-trình lên, Diêm-vương cả giận nói:

— Không ngờ cái nhãi, mà dám đảo-điên, đã làm sự dâm-tà, lại còn toan kiện bậy. Vậy nên đem tống giam vào ngục.

Bèn viết lớn lời phê-phán rằng:

« Mảng nghe:
Biến hóa ra vượn hạc sâu cát, đời Chu từng nghe[7].

Tinh-linh của hoa-biểu hồ-ly, triều Tấn lại thấy[8]
Thế vận dần xuống,
Ma quái càng nhiều.
Cho nên, Đạo-gia có phép trừ yêu,
Địa-ngục có bùa triệu quỷ.
Hăm bốn tòa nghiêm-mật, công việc chia riêng,
Nghìn vạn giống quỷ-yêu, tăm-hơi trốn biệt.
Cớ sao loài nhơ-nhớp,
Dám giở thói điên-cuồng,
Một đời chỉ sống với tà-dâm, tham-lam đã lắm,
Đến chết vẫn còn toan dối-trá, giả mạo sao nhiều.
Cho là tội danh có thể trốn qua,
Cho là Minh-phủ không thể trừng-phạt.
Cáo họ Nhâm, hổ họ Thôi, lắm trò biến huyễn[9],
Gươm làm cây, dao làm núi, phải giở ngục-hình[10].

Đến như gã Hoàng,
Cũng là đáng trách
Chí thiếu bền-cứng
Lòng vướng ham-mê
Không biết bắt chước Nhan Thúc-Tử chối từ cô ả láng-giềng[11],
Lại đi nối bước Vũ Thừa-Tự mê mãi con yêu hoa-nguyệt[12].
Chẳng tội gì đó,
Có nhẹ mà thôi,
Lời ta phán truyền,
Thi-hành lập tức ».

Lại ngoảnh bảo Hoàng rằng:

— Nhà ngươi theo đòi nho học, đọc sách thánh-hiền, trải xem những sự tích xưa nay, há không biết lời răn sắc đẹp, cớ sao lại đi vào con đường ấy!

Liền cầm bút phê rằng:

« Bỏ nết cương-cường, theo đường tà-dục, giảm thọ một kỷ ».

Lại sai hai tên lính đưa Hoàng về nhà. Hoàng vuôn vai bừng tỉnh, mồ-hôi toát ra đầy mình. Sau mấy năm, nhân đi việc quan đến hạt Tam-giang, vào nghỉ ở đền Phong-châu, thấy đền-đài tường vách, tượng thần và cái hành-lang trụt đổ, đúng như trong chiêm-bao trông thấy, mới biết dạo trước chính mình bị đòi đến đây. Hoàng vội lên ngựa ruổi mau, không dám ngoảnh lại. Bấy giờ là ngày Đinh-tỵ tháng 8 năm Thiệu-bình thứ 2.


Lời bình

Than ôi! dòm vào buồng, kêu trên xà, chẳng đã là quái gở ư? Thưa rằng chưa vậy. Con gấu Vũ-uyên[13], con lợn Bối-khâu[14], chẳng đã làm quái-gở ư? Thưa rằng chưa vậy. Bởi Xương-lê làm bài văn Nguyên-quỷ, Khâu-minh giải nghĩa kinh Xuân-thu, ấy là quái gở nên làm thường. Thế thì câu chuyện Xương-giang, chẳng phải là quái. Phương chi xem thấy yêu nữ mê người, sẽ biết răn sợ trước sắc đẹp, xem thấy linh-từ xử án, sẽ biết kính tránh trước thần thiêng. Nghi để truyền nghi, chẳng có gì là quá đáng vậy.

   




Chú thích

  1. Kinh Xuân-thu chép mùa Xuân năm Đinh-mão thứ 8 đời vua Chiêu-công nước Lỗ, có hòn đá biết nói ở ấp Ngụy-du nước Tấn. Lại chép năm thứ 31 đời vua Trang-công có vị thần giáng xuống đất Sầm.
  2. Triệu Sư-Hùng đời Tùy, trong năm Khai-Hoàng, đi qua núi La-phù ở huyện Nam-hải đất Quảng-châu, một hôm trời tối lạnh-lùng, thấy một chiếc nhà tranh bên cạnh quán rượu ở giữa rừng thông, có cô gái đẹp mặc áo trắng ra mời đón. Dưới bóng trăng mờ, Sư-Hùng cùng cô gái chuyện trò thân-mật, rồi cùng gõ cửa nhà hàng rượu vào uống với nhau, một lát lại có đứa trẻ áo xanh ra cười đùa hát múa. Sư-Hùng say rượu nằm kềnh ra ngủ, đêm khuya thấy rét lạnh lắm, gần sáng nhìn xem, té ra nằm ở dưới góc một cây mai lớn. (Thượng-hữu-lục) — Tống-Tiềm làm chức Tuần-Kiểm ở Cam-lăng đón một người bạn là Triệu-Đương-Huấn đến nhà ngồi dạy trẻ học. Một đêm Triệu thấy một người đàn bà đẹp đứng dưới đèn ngâm thơ khêu gợi, rồi tắt phụt đèn đi, từ đấy hai người đêm nào cũng quấn-quít với nhau. Lâu rồi Tống-Tiềm biết, sai người nhà vây bắt được người đàn-bà ấy, nắm cổ tay thấy bé tý, nhìn ra thì là cái quặng đèn. Bèn đốt bỏ cái đèn ấy đi (Viên-cơ).
  3. Ôn-Kiệu đời Tấn tên tự là Thái-Chân, đi qua bến Ngưu-trử. Chỗ đó nước sâu thăm-thẳm, người ta vẫn đồn là có nhiều quái vật. Kiệu bèn đốt một cái sừng tê soi xuống, một chốc vô số những thủy-tộc kỳ-hình quái-trạng hoặc đi xe đi ngựa, hoặc mặc áo đỏ, lố-nhố hiện ra. Đêm hôm ấy, Kiệu nằm chiêm bao thấy có người bảo: « Ta cùng người tối sáng khác đường, sao lại soi nhau để làm gì thế »; xem ý có vẻ tức giận lắm. (Viên cơ).
  4. Mã-công-Lượng đời Tống, thuở nhỏ một đêm ngồi đọc sách dưới đèn ở trong cửa sổ, chợt thấy có một bàn tay lớn như là cái quạt thò vào, đêm hôm sau cũng lại như thế. Lượng bèn lấy bút nhấp nước hùng hoàng viết lớn một chữ « hoa » vào tay. Ngoài cửa sổ chợt có tiếng kêu to, bảo có rửa hộ ngay đi không. Lượng cứ mặc kệ. Gần sáng, tiếng kêu van càng tha-thiết và tay vẫn không rút ra được; lại nói: « Ông sắp làm nên đại quý nên tôi đùa-trêu ông, sao nỡ làm tôi khốn quẫn quá thế! Há không biết việc Ôn-Kiệu đốt sừng tê ư? » Lượng nghĩ ra, bèn lấy nước rửa sạch chữ hoa, cái quỷ ấy cảm tạ mà đi. (Viên cơ).
  5. Ngụy-nguyên-Trung đời Đường, một hôm thấy có mấy người đàn-bà con-gái từ đâu hiện đến đứng ở trước giường. Ông bảo: « Có thể khiêng cái giường ta xuống dưới sân được không? » Họ liền khiêng ngay giường ông xuống dưới sân. Lại bảo: « Có thể khiêng trả giường ta đặt vào chỗ cũ được không? » Họ lại không đặt vào chỗ cũ. Lại bảo: « Có thể khiêng giường ta ra phố được không? » Họ đều cúi lạy rồi đi và bảo với nhau rằng: « Đó là bậc trưởng-giả khoan-hậu, ta không nên đùa-cợt như với những người khác ». (Viên cơ).
  6. Đời Tam-quốc, Quản-lộ một đêm đương ngồi dưới đèn, chợt có một con vật nhỏ, tay cầm mớ lửa kề lên miệng thổi, xuýt nữa cháy nhà. Lộ sai học trò giơ dao chém đứt đôi lưng, té ra là một con cáo. Từ đấy trong làng không có hỏa tai nữa. (Viên cơ)
  7. Vua Mục-Vương nhà Chu đi đánh phương Nam, cả một đội quân đều biến-hóa, quân-tử thì hóa làm vượn làm hạc, tiểu-nhân thì hóa làm sâu làm cát (Loại tụ)
  8. Đời Tấn Huệ-đế, mả vua Chiêu-vương nước Yên có con hồ-ly già và cây cột trụ đều thành yêu-tinh. Con hồ-ly hóa thành người học trò đến thăm nhà bác-vật Trương-Hóa (Sách Tiễn-đăng).
  9. Nữ yêu họ Nhâm, rất đẹp, lấy chàng Trịnh-Sinh. Sau mấy tháng, vợ chồng đưa nhau ra ngoài thành chơi, gặp người đi săn dắt chó, nàng Nhâm chợt ngã ngựa hóa thành con cáo rồi bị chó săn cắn chết (Hương-đài) — Thôi Thao đi đến quán Hiếu-nghĩa, thấy một người đàn-bà gối đầu vào cái da hổ mà ngủ. Thao kéo lấy da hổ vất xuống giếng, người đàn-bà sực tỉnh dậy, mất da không biến được nữa. Thao lấy làm vợ. Sau ba năm, nàng hỏi da hổ để đâu: Thao bảo ở dưới giếng. Nàng vớt lên khoác vào mình, hóa làm con hổ, gầm thét mà đi mất. (Hương-đài)
  10. Gươm làm cây, dao làm núi là trỏ vào những ngục Kiếm-thụ Đao-sơn người ta tin là có ở dưới Âm-phủ.
  11. Nhan Thúc-Tử đời Chu, người nước Lỗ, một mình ở một cái nhà. Đêm mưa bão, nhà láng-giềng phía bắc bị đổ, một cô gái chạy sang trú nhờ. Thúc-Tử bắt cô gái cầm một cây nến ở tay, nến hết lại đưa cây khác để đốt tiếp, đến sáng mới thôi. Giữ mình ngay sạch đến như thế. (Thượng-hữu-lục)
  12. Vũ Thừa-Tự tức là Vũ Tám-Tư người đời Đường, có người nàng hầu là Tố-Nga, vốn là cái tinh hoa nguyệt hóa hiện thành người. (Đã có chua ở trên).
  13. Vua Tấn ốm, chiêm-bao thấy con gấu chạy vào cửa sổ. Hàn Tuyên-Tử hỏi Tử-Sản. Tử-Sản nói: « Đời xưa vua Nghiêu giết ông Cổn ở Vũ-sơn, hồn thiêng ông Cổn hóa làm con gấu vàng, vào ở Vũ-uyên, đời Tam-đại vẫn cúng tế. Nước Tấn từ khi làm minh-chủ, chừng chưa cúng tế phải không? » (Loại-tụ).
  14. Đời Xuân-thu, Tề-hầu ra săn ở đất Bối-khâu, thấy một con lợn lớn. Kẻ theo hầu nói: « Đó là công-tử Bành-sinh hiện lên đấy ». Tề-Hầu nói: « Bành-sinh sao được như thế! » Bèn bắn một phát. Con lợn đứng lên như người mà khóc. Hầu sợ, ngã xe, bị thương ở chân và rơi mất giày.