Văn tế Bá Đa Lộc (viết hộ Đông cung Cảnh)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hỡi ơi!

Mấy năm dư tri ngộ, tính chửa rồi trong cuộc chinh tru;
Năm mươi lẻ xuân thu, sao vội rẽ ngoài vòng cực lạc ?
Tục người khác mà tấm lòng chẳng khác, chia vàng đã rõ bạn tương tri;
Thù nước riêng mà tấc dạ chẳng riêng, rèn đá quyết vá trời Việt quốc.
Ngõ thấy nhà Lưu vận ách, đất Hứa Xương rộng rãi, đã khó khăn giặc quỷ Tào Man;
Từng than thế Hán thiếu binh, nơi Tân Dã hẹp hòi, lại khôn dụng đồ chiêm Gia Cát.
Cùng thuyền bá việt, dìu dắt đưa lá ngọc cành vàng;
Kể nỗi gian truân, nhục nhằn trải non xanh bến bạc.
Ra Thổ Châu, vào Phú Quốc, giặc sau lưng theo đuổi, cùng nhau hầu không chước giải nguy.
Đồ khôi phục, liệu tá binh, con dưới gối lìa trao, muôn việc đã đành lòng ký thác.
[...]
Ra công giúp của, khi loạn ly từng đỡ ngặt nước nhà;
Nối gót di tai, việc triều chính đã in nhau gan mật.
Dải Diên Khánh bốn bề sa mạc, lòng bền dạ gắng; giúp Đông cung khỏe sức chống thành;
Thu Quy Nhơn một lũy Đồ Bàn, thẻ vận màn che, khiến Sơn tặc cúi đầu quay bước.
Ra Bến Đá đưa nên bệnh quỷ, bệnh lại thêm dũ nhật dũ tăng;
Về Kỳ Sơn cần chuộc thuốc tiên, thuốc khôn giúp tư nhân tư tật.
[...]
Nào thủa nước Lang Sa, thành Vọng Các, đường xa dặm thẳm, mấy năm trời ai được gặp nhau;
Bây giờ miền âm giới, cõi dương gian, kẻ mất người còn, ba tấc đất mà không thấy mặt!
[...]
Đối con trẻ cho mà dạy đó, lối cổ nhân dấu hãy rành rành;
Dứt nghĩa này chẳng gác về đâu, trông thiên giới gót đà phần phật!
Phân tân chủ, xẻ chia hai ngả, bồi hồi xiết cạnh lòng đau;
Tả ân tình, lạo thảo một văn, điếu tế tạm dùng lễ bạc.
Công nặng đó, của thêm nặng đó, ngàn vàng chưa dễ đền bồi;
Còn tưởng nhau chết cũng tưởng nhau trăm thửa hãy còn ghi tạc.

Than ôi! Thương thay.

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1925, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.