Vịnh cảnh mùa thu

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

I[sửa]

Một nhạn[1] hòa truyền lệnh Nhục thu[2],
Song thưa ngần ngật lọt hơi thu.
Vàng phô rãnh cúc khi sương rụng,
Bạc điểm ngàn lau thuở tuyết mù.
Đèn sách trên yên nghề cử tử[3],
Can qua ngoài ải việc chinh phu.
Thảnh thơi đêm có vầng trăng giãi,
Tỏ làu làu khắp chín châu.

II[sửa]

Hơi may hây hẩy lọt chồi ngô[4],
Đòi trận[5] so le nhạn khiếp[6] thu.
Xan xát vàng, buông giậu cúc,
Phau phau bạc, phất cờ lau.
Hòe pha khóm lục chim phơi ngọc,
Nguyệt giãi dòng trong cá hớp châu[7].
Với hỏi kìa ai trong tuyết tĩnh,
Thửa[8] về niềm niệm[9] mãi sông Ngô[10].

   




Chú thích

  1. Nhạn: Chim én
  2. Nhục thu: Vị thần giữ hành kim, trông coi việc mùa thu (sách Lễ kí)
  3. Cử tử: Sĩ tử
  4. Ngô: Ngô đồng
  5. Đòi trận: Nhiều đàn
  6. Khiếp: Sợ hãi
  7. Hớp châu: Đớp ngọc
  8. Thửa: sự
  9. Niềm niệm: Tâm niệm
  10. Câu này ngụ ý: Trương Hàn người Ngô quận, nhân gặp tiết mùa thu, nhớ quê hương nên cáo quan trở về