Việt Nam phong tục/I.14

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

XIV.— VỢ CHỒNG

Tiếng gọi.— Vợ chồng con nhà sang trọng, gọi nhau bằng cậu mợ, thầy thông thầy phán thì gọi nhau bằng thầy cô, nhà thường thì gọi nhau bằng anh chị. Có con rồi thì gọi nhau bằng thầy em đẻ em, nhà thô tục thì gọi nhau là bố cu mẹ đĩ, có người thì gọi bố nó mẹ nó, có người cả hai vợ chồng gọi lẫn nhau là nhà ta. Ở Quảng-Nam thì vợ gọi chồng là anh, chồng gọi vợ là em. Ở Nghệ Tĩnh vợ chồng gọi là gấy nhông.

Đạo vợ chồng.— Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hòa thuận. Tục có câu rằng: « Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn », nghĩa là có hòa thuận với nhau thì việc khó đến đâu, cũng làm nên được. Người chồng lại trọng nhứt là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết với chồng.

Nghĩa vụ của người vợ.— Người vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải nuôi cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng công kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng; dưới thì săn sóc nuôi con, thế mới gọi là nội trợ.

Tứ đức.— Lại phải đủ tứ đức mới gọi là hiền. Tứ đức là: Phụ dung, phụ công, phụ ngôn, phụ hạnh.

Phụ dung là dáng người đàn bà, dáng phải chính đính hòa nhã, nhưng cũng phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.

Phụ công là nghề khéo của người đàn bà, nghề khéo thì chẳng qua trong việc vá may thêu dệt, và biết buôn bán mà thôi, ai giỏi nữa thì biết đủ các việc cầm kỳ thi họa là cùng.

Phụ ngôn là lời ăn tiếng nói của người đàn bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng câu cẩu mà cũng đừng the thé, quí hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.

Phụ hạnh là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con, và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh mà cũng không cay nghiệt với ai.

Ấy là tứ đức, có đủ chừng ấy mới là người đáng khen.

Tam tòng.— Đàn bà lại có nghĩa tam tòng nữa. Tam tòng là:

tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ, khi đã đi lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất rồi thì theo con.

Cho nên tục ta đi lấy chồng thì dù hay, dở, sống, chết thế nào cũng là người nhà chồng, chỉ nương nhờ về chồng con, chớ không nương nhờ ai được nữa. Cũng vì nghĩa ấy mà người đàn bà phải hết lòng hết sức lo cho chồng con, tức là lo cho mình.

Nghĩa vụ của người chồng.— Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quí trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ được nương nhờ sung sướng là hơn cả.

Thứ nhì là vợ chồng đồng tâm hiệp lực, kẻ lo việc ngoài, người lo việc trong, cho việc gia đình chỉnh đốn đâu ra đấy, mà đừng để khổ sở vất vả riêng cho một mình vợ. Còn người quanh năm chí tối, chỉ trông cậy về vợ thì gọi là người hèn.

Quyền người chồng.— Tục ta trọng nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền vợ.

Một là tiền của. Tiền của, của hai vợ chồng làm ra, hoặc của người chồng hay là do người vợ làm ra, cũng gọi là của chồng cả. Có câu rằng: Trai tay không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn cũng thể nhờ chồng.

Hai là việc giao thiệp. Ta chỉ người đàn ông có quyền giao thiệp với người ngoài, chớ đàn bà thì không được dự gì đến việc nọ việc kia cả. Cho nên từ trong họ, đến ngoài làng, cho đến việc tiếp khách, các việc ứng tiếp với xã hội, cũng không việc gì can dự đến đàn bà. Ta vì tục ấy mà đàn bà ít kiến thức, tựa như một phần người vô dụng ở đời.

Ba là quyền tự do. Ta chỉ người đàn ông được tự do, nghĩa là muốn chơi bời gì thì chơi, muốn đi lại đâu thì đi lại, người vợ không có quyền ngăn cấm được, mà vợ hơi có điều gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi mắng được, đánh đập được. Chồng có thể lấy năm, bảy vợ, mà vợ chỉ được phép lấy một chồng.

Có câu rằng: Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng. Đây là nói đại khái, chớ quyền gì thì chồng cũng hơn.

Thất xuất.— Đàn bà ở với chồng, bảy điều nên phải đuổi gọi là thất xuất:

1.— Không con;
2.— Dâm dật;
3.— Không thờ cha mẹ chồng;
4.— Lắm điều:
5.— Trộm cắp;
6.— Ghen tuông;
7.— Có ác tật.

Đàn bà lấy chồng, trọng nhất là việc nối dõi tông đường, không có con thì chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ. Dâm dật là một nết hư. Không thờ phụng được cha mẹ chồng là bất hiếu. Lắm điều thì chua ngoa khó chịu. Trộm cắp thì là có tính gian phi. Ghen tuông thì mất tính hiền hậu. Có ác tật thì không đương nổi việc nhà, e truyền nhiễm cho người trong nhà chăng.

Các điều ấy cũng khó dung, cho nên phải đuổi.

Tam bất khả xuất.— Trong phép lại có ba điều không được đuổi:

1.— Đàn bà từng để tang 3 năm nhà chồng,

2.— Trước nghèo sau giàu.

3.— Ở nhà chồng thì được mà về nhà mình thì không có chỗ nào nương tựa.

Đàn bà để tang cha mẹ chồng ba năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu rồi, ấy cũng là có công với chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình, mà lại là người bất hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy nhau thì nghèo, mà sau rồi mới giàu có, thì là đường sinh kế cũng có nhờ tay vợ giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là người phụ công. Đàn bà chỉ nhờ chồng con và nhờ cha mẹ được mà thôi. Nếu cha mẹ người vợ mất rồi mà đuổi đi thì người ta nương nhờ vào đâu, thế là bất nghĩa, cho nên không đuổi.

*

* *

Cái đạo vợ chồng cũng là một mối cương thường rất hệ trọng trong ngũ luân. Ở với nhau mà biết thương yêu nhau, quí trọng nhau, thì rất là phải đạo lắm. Nhưng tục ta trọng Nam khinh Nữ thì là một tục trái hẳn với cách văn minh.

Sao vậy? Tạo hóa sinh ra có trai thì phải có gái, có người coi việc ngoài thì phải có người coi việc trong, người cứng gân khỏe thịt thì phải làm việc nặng nề, người yếu chân mềm tay thì đã có việc nhẹ nhàng, chẳng qua cũng là giúp lẫn nhau thì mới nên được công này việc nọ, chớ thiếu một bề nào cũng không được, vậy thì công việc của đàn bà có kém gì công việc của đàn ông đâu? Vả lại trời sinh ra người đàn bà, cái màu hoa bóng bẩy kia, có thể vui vẻ cho ta những khi bực dọc; cái giọng oanh thỏ thẻ kia, có thể khuây giải cho ta những lúc buồn rầu. Lúc ruột gan ta nóng nẩy bồn chồn, nhờ có đôi mắt thu ba làm cho ta được dịu êm mát mẻ, khi tinh thần ta lo nghĩ mỏi mệt, nhờ có hai vừng đào kiểm làm cho ta được khoan khoái thư nhàn. Vậy thì chẳng những là nên thương cái phận người yếu đuối, mà lại nên kính nên trọng nữa.

Cho nên cứ lấy đạo công bình mà nói thì đáng lẽ quí đàn bà hơn đàn ông mới phải, chớ nên cậy mình khỏe mạnh mà khinh bỉ đàn bà, mà ức chế đàn bà. Tục ngữ Âu-Châu có câu rằng: « On ne doit pas battre les femmes même avec des fleurs » nghĩa là dẫu cái hoa cũng không nên dùng mà đánh đàn bà. Câu ấy gẫm ra có lý thú lắm.

Tục ta thì phần nhiều áp chế đàn bà quá. Có người coi vợ như kẻ ăn người ở, nào là bắt sửa túi nâng khăn, nào là bắt cơm dâng nước tiến, nào là bẻ hành bẻ tỏi, nào là bắt nhặt bắt khoan. Chồng ăn chơi như phá không sao, vợ xểnh ra một chút đã sinh ra ỏm tỏi, chồng chim chuột như quỉ thì chẳng hề gì, vợ động đi đâu một lúc đã sinh ra ngờ vực, ấy là trái với đạo công bằng.

Tục ta buộc cho đàn bà một chữ trinh mới lại nghiệt nữa. Đã đành rằng trinh tiết là một nết rất quí ở Á-Đông ta, không có thể sao bỏ được, nhưng thủ trinh với chồng cốt ở trong bụng, chứ giữ gìn từng li thì tựa như đàn ông quá khắc. Tục Âu-châu, vợ chồng thủ tín với nhau thì thôi, ngoài ra dẫu dắt tay quàng vai nhảy đầm với kẻ khác cũng chẳng sao, dẫu ngồi tiếp chuyện với khách, bắt tay với khách cũng chẳng sao. Ta thì kỹ kiêng quá: nào ngồi nói chuyện với đàn ông cũng kiêng, đụng tay vào đàn ông cũng kiêng, đến cả vợ chồng đi với nhau ở ngoài đường cũng kiêng nốt. Sao mà kỹ kiêng quá thế? Mà người đàn bà đã hư, dẫu kiêng thế nào cũng hư, thì kiêng có ích gì đâu. Vả lại một bước không dám ra đến ngoài, một người lạ không dám đáp chuyện, thì sao mà rộng kiến văn mà giúp chồng nên việc lớn được? Đàn bà con gái nước ta, ít người tài trí anh hùng như các nước, cũng có lẽ vì câu nệ nghĩa chữ trinh quá nữa.

Đến như trong tội thất xuất, thì lại có mấy điều lạ lùng! Ừ như tội dâm dật, cứ theo luân lý ta thì không thể nào thứ được. Tội bất hiếu, phạm vào đạo luân thường; tội trộm cắp, phạm phải thói gian phi; các tội ấy cũng còn có lẽ phải. Còn như tội không có con, chẳng qua bởi khí huyết, hoặc bởi tại đâu, người đàn bà có làm sao được; lắm điều, ghen tương, thì phải nói là thường của đàn bà, có không thể chịu được thì lựa lời uốn nắn dần dần cũng phải được, sao nỡ vì một lỗi nhỏ mà tuyệt tình ân-nghĩa? Còn tội có ác tật là một sự bất hạnh của đàn bà, chớ nào ai muốn. Nên phải hết lòng thuốc men cho người ta, nếu chữa không được mà sợ truyền-nhiễm thì nên kiếm cách giữ gìn chớ nỡ nào bỏ người ta cầu vơ cầu vất. Thế mà bỏ đi thì là quá khắc! Tưởng Thánh-hiền đời xưa, chắc có một cớ riêng gì nữa chăng?

Tuy vậy, có tội thất xuất, lại có ba điều bất khả xuất, thì lại là một lòng rất trung hậu.

Nói tóm lại thì đàn ông chớ nên khinh bỉ đàn bà, chớ nên tranh hết quyền đàn bà, và chớ nên dùng cách áp chế mà ngược đãi đàn bà. Song nghĩa vụ của đàn ông đốì với đàn bà thì như thế, mà nghĩa vụ của đàn bà đối với đàn ông thì cũng phải kính trọng chồng, phải một lòng một dạ mà lo công việc nhà chồng, phải giữ gìn cái danh trong sạch để đừng phụ tấm lòng thương yêu của chồng. Chớ nên lấy nê rằng mình là người của chồng đáng quí mến, mà bè nheo làm rầy chồng, hoặc say đắm đường ăn chơi, làm hại của nhà chồng, hoặc mắng chó chửi mèo, nói chồng chẳng ra gì, thấy chồng yêu xỏ chân lỗ mũi, lại không trách chồng là phàm phu được nữa.

Sách có chữ rằng: « phu phụ tương kính như tân » nghĩa là vợ chồng kính trọng nhau như khách. Lại có câu rằng: « phu phụ hòa nhi hậu gia đạo hành » nghĩa là vợ chồng có hòa thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương cho trong đạo vợ chồng.