Đăng Nhạc Dương lâu

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

危樓峙高岸
登臨何壯哉
浮雲三楚盡
秋水九江來
往事傳三醉
故鄉空一涯
西風倚孤檻
鴻雁有餘哀

Nguy lâu trĩ cao ngạn,
Đăng lâm hà tráng tai!
Phù vân Tam Sở[1] tận
Thu thủy Cửu giang[2] lai
Vãng sự truyền tam túy[3]
Cố hương không nhất nhai
Tây phong ỷ cô hạm
Hồng nhạn hữu dư ai!

Lầu cao ngất sừng sững trên bờ cao
Lên cao nhìn xuống, cảnh thật hùng tráng
Mây nổi khắp vùng Tam Sở
Nước thu từ chín sông đổ về
Truyện xưa truyền lại (Lã Động Tân) đã say ba lần ở đây
Quê hương một góc trời không
Gió tây thổi, một mình dựa lan can
Chim hồng chim nhạn kêu thêm buồn

   




Chú thích

  1. Ba miền của nước Sở, Tây Sở, Đông Sở, và Nam Sở; nay thuộc phần đất tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang
  2. Có chín dòng sông đổ vào hồ Động Đình, sông Phong, sông Nguyên, sông Tương, sông Tư, sông Dương Tử,...
  3. Ba lần say. Lã Động Tân 呂洞賓 đời Đường thi hỏng, được Chung Ly Quyền dạy thuật trường sinh. Người đời liệt Lã Động Tân vào hàng Bát Tiên 八仙. Ông có hai câu thơ:
    三醉岳陽人不識
    朗吟飛過洞庭湖
    Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức
    Lãng ngâm phi quá Động Đình hồ.
    (Ba lần say ở lầu Nhạc Dương không ai biết.
    Hát vang bay qua hồ Động Đình)