Đề Hà hiệu úy Bạch vân tư thân

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

庭圍一別歲花深
愛慕人皆共此心
客裡看雲情易切
公餘披卷意難禁
家山孰不懷桑梓
忠孝何曾有古今
持此贈君還自感
詩成我亦淚沾襟

Đình vi nhất biệt tuế hoa thâm,
Ái mộ nhân giai cộng thử tâm.
Khách lý khan vân tình dị thiết ;
Công dư phi quyển ý nan câm.
Gia sơn thục bất hoài tang tử[2] ;
Trung hiếu hà tằng hữu cổ câm (kim).
Trì thử tặng quân hoàn tự cảm ;
Thi thành ngã diệc lệ triêm khâm.

Từ khi xa rời chỗ sân màn, tuổi đã sâu thêm ;
Yêu mến cha mẹ ai cũng cùng lòng ấy.
Trong cảnh khách nhìn mây tình dễ thiết tha ;
Xong việc quan giở sách ý khôn cầm được.
Đối với núi nhà ai lại không mang lòng tang tử ;
Lòng trung hiếu khi nào lại có cổ kim khác nhau.
Cầm bài thơ này tặng ngươi ta còn tự cảm ;
Thơ làm xong ta cũng nước mắt áo đầm đìa.

   




Chú thích

  1. Bạch vân tư thân: chỉ điển Địch Nhân Kiệt đời Đường khi làm quan ở Tinh Châu lên núi Thái Hàng, quay nhìn phía quê nhà ở Hà Dương, thấy đám mây trắng, nói với người tả hữu rằng: Nhà mẹ ta ở dưới ấy, rồi ngậm ngùi giờ lâu
  2. Tang tử: cây tử tức cây thị và cây tang là cây dâu, người ta thường lấy để ví quê nhà, nơi cha mẹ ở