Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

豸冠峩峩面似鉄
不獨愛梅兼愛雪
愛梅愛雪愛緣何
愛緣愛雪梅清潔
天然梅雪自兩奇
更添臺柏真三絕
羅浮仙子冰為魂
頃刻能令瓊作屑
夜深琪樹碎玲瓏
月戶風窗寒凜烈
若非風遞暗香來
紛紛一色何由別
巡簷不怕玉樓寒
銀海搖光更清徹
九重軫念及遐氓
萬里錦衣遙駐節
霜風捲地氣橫秋
身在炎荒心魏闕
交南十月暖如春
夢中只有花堪折
將心托物古有之
高蠋深期蹈前哲
東坡謂竹不可無
濂溪愛連亦有說
乾坤萬古一清致
灞橋詩思西湖月

Trãi quan[1] nga nga diện tự thiết,
Bất độc ái mai kiêm ái tuyết.
Ái mai ái tuyết ái duyên hà ?
Ái duyên tuyết bạch mai thanh khiết.
Thiên nhiên mai tuyết tự lưỡng kỳ,
Cánh thiêm đài bách[2] chân tam tuyệt.
La phù[3] tiên tử băng vi hồn,
Khoảnh khắc năng linh quỳnh tác tiết.
Dạ thâm kỳ thụ toái linh lung;
Nguyệt hộ phong song hàn lẫm liệt.
Nhược phi phong đệ ám hương lai,
Phân phân nhất sắc hà do biệt ?
Tuần thiềm[4] bất phạ ngọc lâu[5] hàn ;
Ngân hải[5] dao quang cánh thanh triệt.
Cửu trùng chẩn niệm cập hà manh ;
Vạn lý cẩm y dao trú tiết.
Sương phong quyển địa khí hoành thu[6],
Thân tại Viêm bang tâm Ngụy khuyết[7].
Giao nam thập nguyệt noãn như xuân,
Mộng trung chỉ hữu hoa kham chiết.
Tương tâm thác vật cổ hữu chi;
Cao trục thâm kỳ đạo tiên triết.
Đông-pha vị trúc bất khả vô[8];
Liêm-khê[9] ái liên diệc hữu thuyết.
Càn khôn vạn cổ nhất thanh trí,
Bá kiều[10] thi tứ Tây hồ nguyệt[11].

   




Chú thích

  1. Trãi quan: Mũ quan ngự sử, trên cầu mũ có khắc hình con giải trãi là loài thú có một sừng. Người Trung Quốc xưa cho rằng gặp người, hễ là người không chính trực thì nó tất húc, nên dùng nó để tượng trưng quan ngự sử giữ việc đàn hặc các quan
  2. Đài bách: chỉ đài ngự sử, vì xưa ở Trung Quốc trong phủ Ngự sử trồng nhiều cây bách
  3. La phù: núi tiên ở miền tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Sách Long thành lục chép rằng Triệu Sư Hùng đi chơi núi La phù, gặp người đàn bà mặc áo trắng đón vào quán rượu, Sư Hùng say nằm ngủ, sáng dậy thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Câu này là theo tích ấy
  4. Tuần thiềm: thơ Đỗ Phủ có câu: « Tuần thiềm sách mai hoa tiếu » nghĩa là dạo quanh thềm để tìm hoa mai mà cười cùng
  5. a ă Ngọc lâu, ngân hải: thơ Tô Đông Pha có câu: « Đống hợp ngọc lâu hàn khí túc; Quang dao ngân hải uyển sinh hoa », nghĩa là « Giá lạnh so vai sởn gai ốc; Sáng lay trước mắt đổ đồng quang » (Sách Đạo gia gọi vai là ngọc lâu, mắt là ngân hải). Hai câu đều là tả tuyết (Xem Từ nguyên các chữ « ngọc lâu », « ngân hải »)
  6. Câu này chỉ uy nghi lẫn liệt của quan ngự sử đi tuần ở địa phương
  7. Ngụy khuyết: chỗ treo pháp lệnh ở cửa cung. Sách Trang Tử có câu: « Thân tại giang hải chi thượng, tâm cư Ngụy khuyết chi hạ », nghĩa là mình thì ở trên chỗ sông biển mà lòng thì ở dưới cửa Ngụy khuyết. Ý câu thơ này nói quan ngự sử đi tuấn du ở phương xa mà lòng thì vẫn để ở chỗ chấp hành pháp luật của nhà vua
  8. Tô Đông Pha đời Tống có câu thơ: « Khả sử thực vô nhục, Bất khả cư vô trúc » nghĩa là có thể ăn không có thịt, không thể chỗ ở không có trúc
  9. Liêm Khê: tức Chu Đôn Di đời Tống, có bài « Ái liên thuyết » cho hoa sen là hoa quân tử
  10. Bá kiều: câu trên sông Bá, ở huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, do người đời Đường ở Trường An lấy chỗ ấy làm nơi tống biệt nhau. Có người hỏi Trịnh Khải đời Đường gần đây có thơ gì mới rằng? Ông đáp: « Tứ thơ của tôi ở cảnh cỡi lừa trong tuyết ở Bá kiều, nay không có cảnh ấy thì làm thơ thế nào được ». Điển này chỉ tuyết
  11. Tây hồ nguyệt: Tô Đông Pha có câu thơ: « Tây hồ nguyệt sắc thị mai hoa », nghĩa là sắc trăng ở Tây hồ (ở Hàng Châu) là hoa mai. Điển này chỉ mai