Đồng Tước đài

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

一世之雄安在哉
古人去兮今人來
不見鄴中魏武帝
但見江邊銅雀臺
臺基雖在已傾圮
陰風怒號秋草靡
玉龍金鳳盡茫茫
何況臺中歌舞妓
斯人盛時誰敢當
眇視皇帝凌侯王
只恨層臺空律屼
小喬終老嫁周郎
一朝大限有時至
尚食奏歌圖悅鬼
分香賣履苦叮嚀
落落丈夫何爾爾
奸雄別自有機心
不是鳴哀兒女氣
千機萬巧盡成空
終古傷心漳江水
我思古人傷我情
徘徊俯仰悲浮生
如此英雄且如此
況乎寸功與薄名
人間勳業若長在
此地高臺應未傾

Nhất thế chi hùng an tại tai
Cổ nhân khứ hề kim nhân lai
Bất kiến Nghiệp trung Ngụy Vũ Đế[1]
Đãn kiến giang biên Đồng Tước đài
Đài cơ tuy tại dĩ khuynh bĩ
Âm phong nộ hào thu thảo mĩ
Ngọc Long, Kim Phượng[2] tận mang mang
Hà huống đài trung ca vũ kĩ
Tư nhân thịnh thời thùy cảm đương
Miễu thị hoàng đế lăng hầu vương
Chỉ hận tằng đài không luật ngột
Tiểu Kiều[3] chung lão giá Chu Lang
Nhất triêu đại hạn hữu thì chí
Thượng thực tấu ca đồ duyệt quỷ[4]
Phân hương mại lí khổ đinh ninh
Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ
Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm
Bất thị minh ai nhi nữ khí
Thiên cơ vạn xảo tận thành không
Chung cổ thương tâm Chương Giang[5] thủy
Ngã tư cổ nhân thương ngã tình
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh
Như thử anh hùng thả như thử
Huống hồ thốn công dữ bạc danh
Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại
Thử địa cao đài ưng vị khuynh

Anh hùng một thuở nay ở đâu?
Người xưa đã qua, ôi! người nay tới
Chẳng thấy Ngụy Vũ đế trong thành Nghiệp
Chỉ thấy đài Đồng Tước ở bên sông
Nền đài tuy còn, nhưng đã nghiêng đổ
Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa
Lầu Ngọc Long, Kim Phụng cũng mịt mờ dấu vết
Huống chi ca nhi, vũ nữ trong đài
Người ấy lúc thịnh, ai dám chống lại?
Coi thường vua, lấn lướt vương hầu
Chỉ hận mấy tầng lầu cao sừng sững
Mà nàng Tiểu Kiều đến già vẫn là vợ Chu Lang
Một sớm mai hạn lớn xảy đến
Dâng thức ăn, đàn hát mong làm vui hồn ma
Chia hương, bán giày, khổ tâm dặn dò
Bậc trượng phu tài ba lỗi lạc mà sao như thế?
Kẻ gian hùng riêng có mưu kế trong lòng
Chẳng phải kêu thương ủy mị như tính khí đàn bà?
Rốt cuộc muôn khéo nghìn khôn cũng thành không tất cả
Từ ngàn xưa đau lòng nước sông Chương
Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình
Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh
Anh hùng đến như thế mà như thế
Huống chi những kẻ có chút công nhỏ mọn, danh vọng mỏng manh
Nghiệp lớn ở đời nếu còn mãi
Thì tòa đài cao ở đất này đã chưa đổ

   




Chú thích

  1. Tức Tào Tháo 曹操 (155-220), tự là Mạnh Đức 孟德, thời Kiến An có công thống nhất bắc Trung quốc, làm quan đến chức thừa tướng, phong Ngụy Vương 魏王. Sau khi Tào Tháo chết, con là Tào Phi 曹丕 phế bỏ nhà Hán, lên làm vua, truy tôn là Ngụy Vũ Đế 魏武帝
  2. Ngọc Long, Kim Phượng: tên hai lầu ở hai bên đài Đồng Tước
  3. Vợ của Chu Du 周瑜, đô đốc quân Ngô. Khổng Minh 孔明 khích Chu Du đánh Tào Tháo 曹操, xuyên tạc bài phú của Tào Thực 曹植 (con Tào Tháo) đọc cho Du nghe, nói là Tào Tháo xây đài Đồng Tước để bắt hai chị em Đại Kiều (vợ Tôn Sách 孫策) và Tiểu Kiều (vợ Chu Du 周瑜) đem về nhốt. Chu Du nổi giận quyết đánh, diệt tám mươi vạn quân Tào ở trận Xích Bích 赤壁
  4. Lúc sắp chết, Tào Tháo dặn các tỳ thiếp hằng ngày phải cúng các món Tào Tháo thích ăn khi còn sống và có nữ nhạc múa hát để làm vui. Tào Tháo lại chia phấn sáp, giày thêu cho các tỳ thiếp để họ bán lấy tiền khi túng thiếu
  5. Sông phát nguyên từ Phúc Kiến 福建, chảy qua huyện Lâm Chương