Điếu giải nguyên Nguyễn Hữu Huân

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Ngô Đức Kế

Tam phiên khẳng khái thệ đồng cừu,
Bất tử sa trường chí bất hưu.
Trương tướng hùng phong bi tịnh trĩ,
Văn sơn chính khí sử trường lưu.
Bi tai quốc thế nguy huyền phát,
Tử nhĩ nam nhi sỉ khấu đầu.
Thập lý Thu giang ba lãng nộ,
Cô chu nguyệt dạ bất thăng sầu.

Ba phen khẳng khái thề cùng giết giặc,
Chưa chết ở chốn sa trường thì chí này chưa nguôi.
Phong thái oai hùng của Trương tướng[1] cùng sừng sững với bia đá,
Chính khí của Văn sơn[2] còn lưu mãi trong sử sách.
Buồn thay! thế nước nguy ngập như treo đầu sợi tóc,
Thà chết thôi chứ kẻ nam nhi thẹn với chuyện phải cúi đầu trước quân thù.
Sông Mỹ-tho mười dặm sóng dậy,
Trên chiếc thuyền con dưới ánh trăng, khôn xiết buồn bã.

Hăng hái thề bồi quyết bấy lâu,
Liều mình vì nước trả thù sâu.
Gan liền Trương tướng bia còn mãi.
Chính khí Văn sơn sách để sau.
Thế nước đến nguy như sợi tóc,
Tài trai thà chết chẳng nghiêng đầu.
Sông Tho mấy dặm dồn cơn sóng,
Trăng giõi quanh thuyền nghĩ chạnh đau.

   




Chú thích

  1. Trương Tuần, tướng nhà Đường chống An Lộc Sơn, hy sinh ở Thú-dương.
  2. Văn sơn: Văn Thiên Tường đời Tống bị giặc Nguyên bắt, không chịu khuất phục, bị xử tử. Khi còn bị giam, ông làm bài Chính khí ca nổi tiếng.