Bạch đằng hải khẩu

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

朔風吹海氣凌凌
輕起吟帆過白藤
鱷斷鯨刳山曲曲
戈沉戟折岸層層
關河百二由天設
豪傑功名此地曾
往事回頭嗟已矣
臨流撫影意難勝

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng;
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch-đằng.
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc[2];
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng[2].
Quan hà bách nhị[3] do thiên thiết ;
Hào kiệt[4] công danh thử địa tằng.
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ ;
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.

Gió bấc thổi trên biển, khí biển lạnh rùng.
Nhẹ kéo buồm thơ để qua cửa Bạch-đằng.
Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi chia từng khúc một ;
Như mũi qua chìm, cây xích gãy, bên bờ lớp lớp chồng.
Quan hà hiểm hai người chống trăm người do trời xếp đặt ;
Hào kiệt lập công danh đất ấy từng là nơi.
Quay đầu xem việc cũ, ôi xong rồi !
Cúi xuống dòng mò bóng, ý khôn nói xiết.

   




Chú thích

  1. Bạch Đằng: cửa Bạch Đằng bấy giờ là cửa sông Gianh, ở phía đông thị trấn Quảng Yên ngày nay, chứ không phải là cửa Nam Triệu
  2. a ă Tả cảnh mà tưởng tượng như đó là kết quả của chiến công oanh liệt đời xưa
  3. Bách nhị: chữ ở sách Sử ký nói nước Tần có thế hiểm trở, 2 vạn quân Tần có thể địch nổi 2 trăm vạn quân của các nước chư hầu, tức 2 người địch được trăm người
  4. Hào kiệt: chỉ các anh hùng xưa, Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn đã từng lập công ở chốn này