Biên dịch:Trịnh thị thế gia/Đời thứ 1
Vương tên húy là Phiến (𭪤), lại húy Kiểm (檢), là con trai thứ ba của Dục Đức Vương (毓德王), do Thái phu nhân Hoàng thị sinh ra. Năm Quý Hợi thứ sáu niên hiệu Cảnh Thống (景統) đời Lê Hiến Tông (黎憲宗), ngày hai mươi tư tháng tám, Vương sinh tại thôn Hổ (虎村). Lúc đầu, Thái phu nhân có phần đất dài mười một mười hai trượng, ở chỗ Hạng thôn. Giờ sinh, ánh sáng đỏ đầy khắp phòng, dân làng lấy làm lạ.
Thuở nhỏ, Vương thông minh sáng suốt, không giống người thường. Năm sáu tuổi thì mất cha, cùng mẹ trở về cư trú tại bản quán là hương Sóc Sơn (槊山鄉). Năm mười tuổi, Vương đi chăn trâu cho người ở núi Phụng (鳳山), tụ tập bọn mục đồng, thường cướp gà vịt làm thức ăn; lấy chuồng trâu làm tượng ngựa, lấy lau sậy làm cờ xí, bày đội ngũ, tập trận thế, lấy đó làm trò chơi.
Năm mười sáu, mười bảy tuổi, Vương hùng dũng hơn người, mưu lược khác thường. Bọn trộm cướp tụ tập ở xã Sóc Sơn (槊山社) muốn hại Vương. Bấy giờ, người xã Biện Thượng (汴上社) là Ninh Bang hầu (寧邦侯), họ Lê (黎), tên Sĩ Mặc (仕莫), giao cho Vương việc nuôi dạy đàn ngựa. Vương bèn cưỡi một con ngựa tốt, đi thẳng vào doanh Mang Sùng (芒崇營) ở Cổ Lũng Xuyên (古隴川), huyện Cẩm Thủy (錦水縣), cùng đường huynh là Trịnh Quang (鄭桄) theo Hưng Quốc công (興國公) Nguyễn Kim (阮淦) phò Lê khởi nghĩa.
Hưng Quốc công thấy phong độ, khí tượng của Vương khác hẳn người thường, nên đặc biệt yêu mến, coi trọng. Bấy giờ có người Chiêm Thành (占城) là Vũ Thần An (武辰安), con là Đình Tung (廷嵩), em là Thần Lương (辰良), Đình Thắng (廷勝), cũng theo Hưng Quốc công (興國公). Họ thấy Vương liền tự mình kết giao sâu đậm, thề cùng chia ngọt sẻ bùi. Vương cùng cha con Thần An (辰安) thường qua lại giữa Vĩnh Phúc (永福), An Định (安定) để chiêu dụ hào kiệt. Ninh Bang hầu (寧邦侯) tố cáo với Mặc (莫), ngầm sai người bắt Vương. Vương bèn lánh sang ở nhờ nhà Như Nữu (茹狃) tại xã An Định (安定社).
Một ngày kia, bọn bắt bớ đến gấp. Như Nữu (茹狃) giấu Vương trong kho thóc, lấy thóc phủ lên. Người trong xã thương Vương, cũng không nỡ tố giác, nên Vương thoát nạn. (Sau khi nghiệp lớn của Vương đã thành, Như Nữu đã mất, con cháu ngu độn, không thể dùng được. Vương bèn hậu cấp tiền của, để làm sản nghiệp và chi phí thờ tự. Trải đến đời Thánh Tông (聖宗) ngự giá đến, lại tha cho, ban thêm cho hậu duệ Như Nữu ruộng thuế mùa thu mấy mẫu, để làm nguồn cung cho việc tế tự).
Vương bèn đến Cổ Lũng (古隴) ứng hầu. Về sau, Vương trở về thôn Hổ thăm mẹ, ở nhà cậu là Ông Lãng ở xã Sóc Sơn (槊山社). Người trong xã cùng Ninh Bang hầu lại đến bắt. May có xã trưởng Biện Thượng (汴上社長) biết được, phi báo. Lúc ấy, mẹ con Vương đang ngồi ở hiên sau nhà cậu, bọn kia lấy đá ném tới. Vương biết có điều khác lạ, bèn trốn thoát.
Xã Sóc Sơn cùng Mặc sai người bắt mẹ Vương, giải về đình Sóc Sơn tra hỏi, rồi nhốt vào lồng tre, ném xuống bến sông. Vương nghe tin, nhảy nhót, gào khóc thảm thiết, nhưng thế đã bất đắc dĩ, không dám đi thẳng đến nơi. Bèn mượn người xã An Định (安定社人), giả làm kẻ hành khất, đi dọc theo dòng nước tìm kiếm. Thấy thi thể đang trôi trên dòng nước, đến chỗ Quai Vạc (乖鑊處) bến Biện Thượng (汴上津). Lúc ấy, người đánh cá xã Đông Biện (東汴社) họ Mai (枚姓) đã dời nhà lên bờ (về sau được ban ân cho mười mẫu ruộng). Tin dữ đến, Vương đau đớn vô cùng. Người bên cạnh sợ lụy đến thân, hết sức can ngăn.
Đêm khuya vắng lặng, Vương cùng đường huynh Trịnh Quang (鄭桄), người xã An Định là Trịnh Bá Di (鄭伯夷), và Vũ Thần An, ba người (về sau được Vương thương xót, đều được phong công thần tước vị) cùng đến chỗ ấy. Đến nơi thì đã thấy bầy kiến bám đất đắp thành mộ. Đường huynh Trịnh Quang bảo Vương rằng: "Việc này xảy ra hiếm có, há chẳng biết đó là phúc chăng?" Bèn lạy khóc rồi đi. Nay chỗ mộ ấy có nhiều cây gạo cổ thụ, doi cát bồi lấn ra đến giữa dòng sông.
Vương cùng đường huynh Trịnh Quang đến Cổ Lũng (古隴), theo sự điều khiển của Hưng Quốc công. Bấy giờ Hưng Quốc công tôn phù Lê Trang Tông (黎莊宗) ở Ai Lao (哀牢), đóng tại doanh Mang Sùng (芒崇營), cùng mưu việc khôi phục. Bèn tâu phong cho Kiêm tri Mã Kỳ (僉知馬奇) là Dực Nghĩa hầu (翼義侯), gả con gái là Ngọc Bảo (玉寶) cho, cấp cho binh mã tiến vào nội lũy.
Vương bèn phát binh xã Long Sùng (隆崇社), tiến đến An Trường (安場) để đánh bọn Mạc (偽莫), nhiều lần thắng trận, thanh thế quân đội vang dội. Đặc biệt được ban cho quyền tổng thống binh mã, xây dựng phủ An Trường để luyện tập binh sĩ.
Vương cùng thứ thất là Trương thị (張氏), người sách Thọ Liêu (壽僚冊), huyện Thạch Thành (石城縣), giả làm thợ may, vào phủ Thiên Quan (天關府), huyện Phụng Hóa (奉化縣), giết được giặc Côn Mang (崐芒賊). Từ đó một phương yên ổn, châu quận quy phục.
Năm Kỷ Hợi, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 12 đời Lê Trang Tông (黎莊宗), Vương hai mươi bảy tuổi, được phong Dực quận công (翼郡公). Vương ủy cho đường huynh Trịnh Quang (鄭桄) cùng tâm phúc là cha con Vũ Thần An (武辰安父子) rước hài cốt tiên tỳ (先妣) dời táng tại chỗ 𡏢𬞺 ở thôn An Việt (安越村), cùng ruộng Lãng Điền (朗田). Còn chỗ Quai Vạc (乖鑊處) vẫn giao cho họ Tương Bảo (相保) trông coi.
Từ bến Đông Giang (𡉦東江) xuôi xuống, đến Nha xã Đông Biện, hằng năm vào kỳ tháng tư, theo dấu cũ mà cúng tế tại đó một ngày; đêm xong thì rước vào phủ Biện Thượng (汴上府), lập miếu thờ, lại xây phủ miếu tại xã Vệ Quốc (衛國社) thôn Hổ (虎村), cùng xã Gia Miêu (嘉苗社) khai khẩn ruộng đất tư để làm nguồn phụng tự.
Lại xây dựng doanh vệ tại các xã An Định (安定), An Hoằng (安宏) v.v., tích trữ lương thực, phát cấp cho quân quan, để làm nền tảng phụng thờ tổ tiên, củng cố gốc rễ. Lại dựng phủ miếu tại các xã Sóc Sơn (槊山), Biện Thượng (汴上) để phụng thờ Thái phu nhân Hưng Quốc công (興國公太夫人). Ở Biện Thượng thì phụng thờ tiên tổ. Lại lập ngoại phủ miếu tại thôn Đông Biện (東忭村府), bên trái miếu xây một từ đường, phụng thờ Tống Đại vương (宋大王).
Việc xong, bấy giờ Hưng Quốc công làm Tiết chế, Vương làm Dực quận công (翼郡公), cùng giao chiến với họ Mạc, thủy bộ quân liên tiếp thắng trận, bèn đặt quân giữ các nơi hiểm yếu biên giới. Người Mạc giả hàng, ngầm hãm hại. Hưng Quốc công không ngờ bị trúng độc, được chiếu tặng là Chiêu Huân Tĩnh công (昭勳靖公). Trưởng tử là Hoàng quốc công (璜國公) còn nhỏ, cơ vụ quốc gia đều giao cho Vương.
Quân Mạc nhân lúc sơ hở kéo vào xâm lấn. Vua phong Vương làm Đô tướng Tiết chế thủy bộ chư doanh, thống lĩnh trong ngoài, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái sư Lượng quốc công (太師諒國公). Mọi việc trước hết do Vương phán đoán, rồi sau mới tâu lên.
Năm Bính Ngọ, lập hành điện tại sách Vạn Lại (萬賴冊), lập hành doanh tại xã Biện Thượng (忭上社), hào kiệt phần nhiều vui lòng theo giúp. Cõi đất Ái Châu (愛州) dần dần yên ổn. Khi ấy Vương ba mươi bốn tuổi, Nguyên Hòa đế băng, được tôn là Trang Tông Dụ hoàng đế (莊宗裕皇帝). Thái tử Lê Duy Hoàn (黎維桓) lên ngôi, tám năm thì băng, không có con nối, được tôn là Trung Tông Vũ hoàng đế (中宗武皇帝).
Vương nói: "Thiên hạ không thể một ngày không có vua". Bèn sai người tìm kiếm con cháu họ Lê, bấy giờ có ông Lê Duy Trừ (黎維除) sinh cháu đời thứ năm là Lê Duy Bang (黎維邦) ở thôn Bố Vệ (布衛鄉) núi Đông Sơn, bèn rước về, rồi lập lên làm vua, đặt niên hiệu là Nguyên Hựu (元祐), sau đổi là Chính Trị (正治), tức là Anh Tông Tuấn hoàng đế (英宗峻皇帝).
Năm Kỷ Tỵ thứ 12 niên hiệu Chính Trị (正治), vua gia phong Vương làm Thượng tướng Thái quốc công (上將太國公), tôn là Thượng phụ Thượng tước (上父上秩). Vương trải thờ ba triều Trang Tông (莊宗), Trung Tông (中宗), Anh Tông (英宗), trong ba mươi năm, thiên hạ chia ba thì Vương đã có được hai phần.
Năm Canh Ngọ thứ 13, ngày 18 tháng 2, Vương băng, thọ 68 tuổi. Được tôn phong là Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Hiển Đức Phong Công Khải Nghiệp Hoằng Mô Tế Thế Trạch Dân Kiến Mưu Khuông Tịch Triệu Tường Dụ Quốc Quảng Vận Hồng Mô Dụ Hậu Diễn Phúc Tĩnh Nan Tá Tịch Thùy Hưu Đốc Bật Khai Quốc Cương Nghị Phụ Quốc Tán Trị Nghị Uy Diệu Vũ Diên Khánh Vĩnh Tự Kinh Văn Tuy Lộc Cảnh Quang Phi Hiến Dương Vũ Phù Tộ Hưng Nghiệp Thùy Thống Hồng Hưu Miên Tự Đốc Dụ Diễn Tự Yến Mưu Hồng Nghiệp Hoát Đạt Khoan Dung Lập Cực Vĩnh Hưng Tuy Phúc Chí Đức Quảng Huệ Phù Vận Tư Trị Hồng Ân Tích Hậu Vĩnh Đức Đại Công Thịnh Nghiệp Chế Trị Phục Viễn Lập Kinh Trần Kỷ Cương Minh Hùng Đoán Chương Thiện Diệu Uy Trấn Quốc An Cương Quang Minh Duệ Trí Cung Ý Quả Quyết Sáng Pháp Khai Cơ Cảnh Thái Vĩnh Quang Hàm Chương Tải Vật Mậu Công Hoằng Hiến Pháp Thiên Hưng Vận Khoách Hoằng Khôi Cương Tề Thánh Thông Vũ Anh Quả Tị Viễn Trượng Nghĩa Bình Tàn Thánh Thần Duệ Trí Cương Kiện Trung Chính Anh Hùng Hào Kiệt Kiến Nghĩa Tạo Mưu Khai Tiên Xương Hậu Thái Thỉ Phu Tiên Sùng Cơ Triệu Khánh Thần Vũ Thánh Văn Hùng Tài Vĩ Lược Lập Nghiệp Phối Thiên Công Cao Đức Hậu Triệu Mưu Khải Vận Sáng Nghiệp Lập Bản (232 chữ) Thái vương (大王), thụy là Trung Huân (忠勳), miếu hiệu Thế Tổ (世祖).
Lăng ở Nhương Biện Thượng (忭上鄉), tại chân núi Thùy Hĩnh (祈嶺上垂下山腳) có một gò đất, ngoài gò phỏng theo hơn ba mẫu đất đã san thành bình địa.
- Bà Thái phi Nguyễn thị (阮氏), hiệu Từ Nghi (慈儀), tôn húy Ngọc Bảo (玉寶, ngày sinh chưa rõ), người ngoại trang Gia Miêu (嘉苗外庄), huyện Tống Sơn (宋山縣), là thứ nữ của Chiêu Huân Tĩnh công (昭勳靖公) Nguyễn Kim. Năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Hưng (光興) thứ 9 đời Lê Thế Tông (黎世宗), ngày 17 tháng 10, Thái phi mất. Ngày ấy phủ An Trường (安場府) bị cháy, lửa lan đến cung phủ nên mất, táng tại sách Vạn Lại (萬賴冊).
- Bà Chính phi Lại Quý thị (賴貴氏), thụy Từ Phúc (慈福), tôn húy Ngọc Trân (玉珍, ngày sinh chưa rõ), người xã Long Hà (隆河社), huyện Thạch Hà (石河縣). Ngày hai mươi tháng tám mất, táng tại bản quán Ninh Lăng (寧陵本貫).
- Bà Hiền phi Trương Quý thị (張貴氏), thụy Từ Hành (慈行), tôn húy Ngọc Lãnh (玉冷, ngày sinh chưa rõ), người sách Thọ Liêu (壽僚冊), huyện Thạch Thành (石城縣), là con gái của Phụ đạo Sùng quận công (輔導崇郡公). Năm Bính Tuất (丙戌) thứ chín, ngày mười hai tháng tám mất, táng tại bản quán Ninh Lăng (寧陵本貫).
Con cái sinh ra (5 trai 2 gái): Đạt Nghĩa công (達義公, do chính phi Lại thị sinh), Thế Tổ Triết vương (成祖哲王, do Thái phi Nguyễn thị sinh), Dương Lễ công (楊禮公), Địch Nghĩa công (迪義公), Cần Nghĩa công (勤義公), Tiên Thượng công chúa (仙上公主), Từ Duyên quận chúa (慈緣郡主).
- Đạt Nghĩa công (達義公), húy Cối (檜), là Thế tử của Thái vương, anh của Triết vương, được phong Tuấn Đức hầu (峻德侯). Thái vương băng, Đạt Nghĩa công thay nắm binh quyền, tự buông thả rượu sắc, mất lòng tướng sĩ, bỏ bê chính sự, thiên vị nghe lời sủng thần, lại mưu đoạt binh quyền của em là Triết vương. Về sau đánh nhau với giặc Mạc không chống nổi, bèn dẫn gia quyến đến hàng Mạc. Sau khi mất, họ Mạc sai quân đưa linh cữu về, cho phép mẹ ruột, vợ con cải táng lần nữa. Triết vương sai người đón, lo liệu tang lễ đầy đủ, an táng tại chỗ Trường Lương (場粮處) huyện An Định (安定縣), truy tặng Thái phó Trung quận công (太傅忠郡公), gia phong Đạt Nghĩa công (達義公). Về sau, huyền tôn là Trịnh Cập (鄭楫) thi Hương khoa Ất Dậu đỗ bốn trường; Trịnh Thực (鄭植) thi Hương khoa Kỷ Dậu đỗ bốn trường, đều làm quan đến chức Trưởng sử (長史, chánh thất phẩm). Trịnh Đàn (鄭檀) thi Hương khoa Nhâm Tý đỗ bốn trường, làm quan đến chức Tri phủ (知府, tòng thất phẩm). Nay trưởng chi đích huyền tôn là Trịnh Tôn (鄭樽) phụng thờ.
- Dương Lễ công (楊禮公), húy Đỗ (杜), được dự phong là Dương Vũ Uy Dũng Tuyên Lực Kiệt Tiết Dực Vận Tán Trị công thần. Về sau, huyền tôn là Trịnh Giai (鄭楷) thi Võ cử hai khoa Canh Dần, Nhâm Dần đều đỗ Tạo sĩ thủ tuyển, làm quan đến chức Kiểm điểm Cai Kỳ quan (檢點該奇官), năm Canh Thân tử trận, được tặng Đằng quận công (滕郡公). Huyền tôn là Trịnh Hoành (鄭橫) thi Võ cử khoa Tân Mùi đỗ Binh sinh Hợp thức thủ khoa, khoa Nhâm Thân một lần thi đỗ Tạo sĩ thủ khoa. Trịnh Chu (鄭株) thi Bác cử khoa Giáp Tuất đỗ Tạo sĩ đồng dụng. Trịnh Mô (鄭模) thi Hương khoa Mậu Ngọ đỗ bốn trường. Nay trưởng chi đích huyền tôn là Huyện thừa Trịnh Dực (鄭檍) phụng thờ.
- Địch Nghĩa công (迪義公), húy Đồng (桐), được dự phong Dương Vũ Uy Dũng Tuyên Lực Kiệt Tiết Dực Vận Tán Trị công thần (揚武威勇宣力竭節翊運贊治功臣), không có con trai nối dõi. Con gái là thị Ánh (女氏暎) gả cho Cần quận công (勤郡公) Đinh Văn Giai (丁文佳).
- Cần Nghĩa công (勤義公), húy Ninh (檸), được dự phong Dương Vũ Uy Dũng Tuyên Lực Kiệt Tiết Dực Vận Tán Trị công thần (揚武威勇宣力竭節翊運贊治功臣). Nay đích huyền tôn là Lê hoàng phò mã (黎皇駙馬), Tham Đốc hộ Trung hầu (參督護忠侯) Trịnh Cật (鄭桔) phụng thờ.
- Tiên Thượng công chúa (仙上公主), húy Ngọc Xuân (玉春). Ngày hai mươi tám tháng hai mất, thụy là Đức Phương (德芳), ngày giỗ phối thờ tại cung miếu.
- Từ Duyên quận chúa (慈緣郡主), húy Ngọc Ty (玉絲). Ngày 21 tháng 8 bà mất, ngày giỗ phối thờ tại cung miếu.