Biên dịch:Trịnh thị thế gia/Đời thứ 2
Vương húy là Tùng (松), là con thứ hai của Thái vương (太王). Ngày 12 tháng 11 năm Canh Tuất thứ hai niên hiệu Thuận Bình (順平) đời Lê Trung Tông (1550), Vương được sinh ra. Tài đức của Vương vượt trội quần thần. Năm Kỷ Tỵ, khi Vương 12 tuổi, được phong làm Phúc Lương hầu (福良侯), trao cho ấn Bình Đông (平東印), mở doanh Công Nghĩa (恭義營).
Khi Thái vương qua đời, đến năm Thìn, Vương 21 tuổi, anh của Vương giao chiến với họ Mạc bị thua, bèn đầu hàng Mạc, rồi phong Vương làm Thái úy Trường quận công (太尉長郡公). Năm Quý Dậu, niên hiệu Gia Thái (嘉泰) nguyên niên đời Thế Tông (世宗), Vương được thăng làm Tả tướng (左相), tiết chế các doanh thủy bộ các nơi, kiêm thống nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, quyết đoán mọi việc trong nước rồi sau đó tâu lên. Vương có thể nối tiếp được nghiệp của cha, trọng dụng trung thần, phò tá Lê hoàng, đánh dẹp giặc Mạc, tiến quân đến kinh thành Thăng Long.
Năm Kỷ Hợi, Vương 40 tuổi, Bắc triều Đại Minh sai Tả giang quan Trần Đôn Lâm (陳敦臨), Vương Kiến Lập (王建立) mang ngựa tốt, đai ngọc, mũ Xung Thiên cùng hai tờ thiếp, trong đó viết tám chữ "Quang hưng tiền liệt, định quốc nguyên huân" (光興前烈定國元勳) ban cho Vương, kết tình láng giềng hòa hảo, từ đó việc cống hiến qua lại được thông suốt. Thiên hoàng đế khen ngợi rằng: "Họ Trịnh ở An Nam có thể giữ vững đại nghĩa, phò nhà Lê đánh dẹp giặc Mạc, thật là bậc anh hùng đứng đầu đời nay vậy."
Năm ấy, tiến phong Vương làm Đô nguyên soái (都元帥), Tổng quốc chính (總國政), Thượng phụ An Bình vương (尚父安平王), trên thì phò tá ba triều: Thế Tông Nghị hoàng đế (世宗毅皇帝), Kính Tông Huệ hoàng đế (敬宗惠皇帝), Thần Tông Uyên hoàng đế (神宗淵皇帝), rốt cuộc hoàn thành sự nghiệp trung hưng.
Ngày 18 tháng 6 năm Quý Mùi, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ năm, con thứ của Vương là Vạn quận công Trịnh Xuân (萬郡公鄭椿) đem quân ở chỗ Hoành Đình (橫亭) thuộc phường Phục Cổ (復古坊), sai Điện quận (奠郡), Phần quận (璠郡) cùng các tướng đem quân phá Nội phủ, cướp lấy voi, ngựa, vàng bạc, ép Vương dời ra ngoài thành, bên trong phóng hỏa làm cháy lan kinh thành. Bấy giờ Trần Chưởng giám là Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm (岳郡公裴士林) liều mình phò Vương. Khi ấy Văn Tổ Nghị vương (文祖誼王) là Thế tử, sai em là Dũng Lễ công Trịnh Giai (勇禮公鄭楷) phụng mệnh hộ tống Vương, dời đến chỗ quán bạc xã Hoàng Mai huyện Thanh Trì, sai Sĩ Lâm hộ vệ đưa vào doanh của em Vương là Dương Lễ công Trịnh Đỗ (楊禮公鄭杜), dụ gọi Trịnh Xuân giả vờ trao cho đại quyền. Xuân ngậm cỏ mà phục xuống sân triều, Vương nhiều lần kể tội làm loạn thần tặc tử, lệnh cho Sĩ Lâm sai lực sĩ chặt chân tay Xuân cho đến chết.
Ngày 20 tháng ấy, Sĩ Lâm phụng mệnh đưa Vương đến quán Thanh Xuân (青春館) xã Triều Khúc (潮曲社) huyện Thanh Oai (青威縣), nhân đó Vương mất, thọ 74 tuổi. Tôn phong là Cung Hòa Khoan Chính Minh Triết Thông Hiển Anh Nghị Cương Đoạn Phấn Vũ Kinh Văn Khuông Quốc Vệ Dân Hùng Tài Vĩ Lược Hậu Công Phong Nghiệp Uy Linh Hiển Ứng Hộ Quốc Thiệu Hựu Thụ Lộc Tích Dẫn Miên Tộ Diên Hỉ Khải Hựu Hồng Huân Mậu Công Phu Dũng Tạo Mưu Triệu Vũ Di Điển Triệu Tích Thùy Dụ Vĩnh Mệnh Cao Hạnh Hậu Ân Hiển Mô Quang Tự Phủ Nghiệp Tập Khánh Bảo Trị Tạo Hạ Nhuận Vật Thùy Chuẩn Hiến Thiên Phổ Huệ Lược Thao Công Trực Chấp Bính Phù Cương Phụng Thân Pháp Cổ Chấn Lệnh Lãm Quyền Sùng Hy Khai Khánh Phổ Thông Quang Thiên Kế Thiên Xuất Trị Gia Huệ Hồng Ân Triệu Cơ Vĩnh Mệnh Ác Khu Ngự Vũ Khoách Dung Phấn Đoạn Thực Quốc Ngự Biên Thông Minh Dũng Quyết Thần Vũ Hùng Đoạn Tĩnh Nội Ninh Ngoại Chính Trực Trung Hậu Sáng Nghiệp Thùy Thống Thịnh Đức Mậu Công Hoàn Vũ Anh Mô Huy Cung Thần Thánh Thâm Lược Hoằng Mô Tuấn Công Mậu Đức Cơ Mệnh Cảnh Quang Yến Mưu Hoằng Liệt Thuật Sự Đồ Công Phấn Uy Tạo Vũ Triết (gồm 192 chữ), thụy là Duệ Vũ (睿武), miếu hiệu là Thành Tổ (成祖), táng tại thôn Sóc Sơn (槊山鄉, đất phụ Mã Tích).
- Thái phi Đặng Quý thị (鄧貴氏), thụy Từ Huy (慈徽), tôn húy là Ngọc Dao (玉瑤), ngày sinh chưa rõ, người xã Lương Xá (良舍社), huyện Chương Đức (彰德縣). Bà là con gái của Hậu Trạch công (厚澤公, một bản chép là Hưng Nghĩa công 興義公) Đặng Đình Huấn (鄧廷訓). Bà mất ngày mồng bảy tháng giêng, táng tại xã Phúc Bồi (福培社), huyện Thụy Nguyên (瑞原縣), Ninh lăng (寧陵).
- Chính phi Lại Quý thị (賴貴氏), thụy Từ Huệ (慈惠), tôn húy là Ngọc Nhu (玉柔), ngày sinh chưa rõ, người xã Quang Minh (光明社), huyện Tống Sơn (宋山縣). Bà là con gái Cẩn Lễ công (謹禮公) Lại Thế Khanh (賴世卿), mẹ là Thái phu nhân Hoàng thị (黃氏), người xã Hải Lịch (海瀝社), huyện Lôi Dương (雷陽縣), con gái Thiếu truyền Lan quận công (少傳蘭郡公). Lại vì ngoại tổ mẫu họ Hoàng nên đổi theo đó. Bà sinh ra Tả tướng Tín Lễ công (右相信禮公). Bà mất ngày mười chín tháng chín, táng tại xã Hải Lịch (海瀝社), quê mẹ, thuộc Ninh lăng (寧陵).
Vương sinh được hai mươi con trai: Tín Lễ công (信禮公), Tung Nhạc công (嵩岳公), Văn Tổ Nghị vương (文祖誼王), Mỹ Dự công (美譽公), Thuần Nghĩa công (純義公), Dũng Lễ công (勇禮公), Quỳnh Nham công (瓊岩公), Quảng quận công (廣郡公), Tựu quận công (就郡公), Lập quận công (立郡公), Hựu quận công (佑郡公), Lăng quận công (陵郡公), Xuyên quận công (川郡公), Lộc quận công (祿郡公), Việt quận công (越郡公), Đình quận công (廷郡公), Kiên quận công (堅郡公), Hào quận công (豪郡公), Vạn quận công (萬郡公).
- Tả tướng Tín Lễ công (右相信禮公), húy là Túc (橚), là trưởng tử của Triết vương, do chính phi họ Lại sinh. Ông ham rượu, ưa dũng mãnh, thích chơi đùa với voi thuần, hiệu là Đạm Thanh (㺔青). Một hôm cưỡi voi tắm sông, tướng công rơi xuống sông, voi dùng ngà hất đỡ, bị ngà đâm mà chết, thọ hai mươi tám tuổi. Có hai con trai là Nhuệ quận công (銳郡公) và Quế quận công (桂郡公), đều dự hàng công thần. Nay huyền tôn Trịnh Bính (鄭柄) phụng thờ.
- Tung quận công (嵩郡公), húy là Vân (橒), được phong là Diệp mưu đồng đức Dực vận tán trị công thần (叶謀同德翊運贊治功臣), trấn giữ nơi Hựu An (又安處). Nay huyền tôn là huyện thừa Trịnh Hựu (鄭柚) phụng thờ.
- Mỹ Dự công (美譽公), húy là Huyễn (楥), dự phong Diệp mưu đồng đức Dực vận tán trị công thần, phụng giữ các trấn Thanh Hoa, Vân Sàng v.v. Về sau, huyền tôn Trịnh Bân (鄭彬) đỗ bốn trường kỳ thi Hương, được bổ làm Tri phủ Thường Tín. Nay huyền tôn Trịnh Bân (鄭檳) phụng thờ.
- Thuần Nghĩa công (純義公), tước Thụy Quốc công (瑞國公), húy là Dương (楊), trấn giữ Thanh Hoa (清華處), dự phong Diệp mưu đồng đức Dực vận tán trị công thần. Về sau, tằng tôn Trịnh Huệ (鄭橞) thi Hương khoa Quý Mão, đỗ bốn trường, được sung vào Ứng vụ tôn nhân phủ (應務尊人府), làm quan đến Phó tri Hình phiên (副知刑番). Đến năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu (永佑) thứ hai đời Thuần Tông (純宗), ông thi Hội, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh, làm quan đến Sơn Nam thừa chấp chính sứ (山南承執政使). Anh ruột Trịnh Huệ là Trịnh Tông (鄭棕) thi Hương khoa Nhâm Tý, đỗ bốn trường, làm quan đến Thiêm tri Công phiên (僉知工番). Con Trịnh Huệ là Trịnh Đức (鄭德) thi Hương khoa Canh Ngọ, đỗ bốn trường, lần lượt được bổ làm Tri phủ Ứng Thiên (應天府知府), Lang trung bộ Lại (吏部郎中). Con thứ là Trịnh Đạc (鄭𣐄) đỗ bốn trường, lần lượt làm Tri phủ Hà Trung Thiên Trường (河中天長府知府), Án sát phó sứ xứ Sơn Tây, kiêm quản Trấn Hữu đội, Hoan Thọ hầu (歡壽侯), nhà ở xã Hoàng Trung (黃中社), huyện Thụy Nguyên (瑞原縣). Lăng của tiên công ở xã Y (伊社). Nghĩa tử của tiên công được ban họ Trịnh là Trịnh Di (鄭椸), phong Thiếu truyền Tường quận công (少傳祥郡公), Văn Tổ (文祖) gả con gái thứ bảy là Phù Dung công chúa (芙蓉公主) cho, sinh ra cháu gọi là cháu chú là Trịnh Tôn (鄭樽), khoa Quý Mão thi Võ cử, trúng Biện sĩ hợp thức. Trịnh Tài (鄭材) đỗ bốn trường, lần lượt làm Lang trung bộ Lại (吏部郎中). Trịnh Nhuận (鄭𣞍) khoa Bính Tý thi Võ cử, trúng Biện sĩ hợp thức. Nay đích huyền tôn là Trung úy Hoan Thọ bá (中尉歡壽伯) Trịnh Đĩnh (鄭梃) phụng thờ.
- Dũng Lễ công (勇禮公), húy là Giai (楷), tham dự triều chính, dự phong Diệp mưu đồng đức Dực vận tán trị công thần, mở phủ Phù Nghĩa (扶義府). Tằng tôn Trịnh Liên (鄭槤) được phong Liên quận công (槤郡公). Về sau, huyền tôn Trịnh Hựu (鄭柚) khoa Giáp Thìn thi Bác cử, trúng Tạo sĩ, làm quan đến Thủ hiệu Tổng binh Đồng tri Tố Vũ hầu (首校總兵同知素武侯). Trịnh Thụ (鄭樹) khoa Giáp Ngọ thi Hương, đỗ bốn trường, được bổ làm Viên ngoại lang bộ Hộ (戶部員外郎). Nay trưởng chi đích huyền tôn là Hiệu úy Vương Liễn trung bá Trịnh Ẩn (鄭𭬂) phụng thờ.
- Quỳnh Nham công (瓊岩公), húy là Đệ (棣), dự phong Diệp mưu đồng đức Dực vận tán trị công thần, mở phủ Thắng Nghĩa (勝義府), nắm giữ triều chính, gia phong Triều tể Ý công (朝宰懿公). Về sau, tằng tôn Trịnh Tiêu (鄭杓) khoa Nhâm Tý thi Hương, đỗ bốn trường, sung vào Ứng vụ tông nhân phủ (應務宗人府), làm quan đến Lang trung (郎中). Huyền tôn Trịnh Đằng (鄭㮛) khoa Canh Ngọ thi Hương, đỗ bốn trường, được bổ chức Trưởng sử (長史職). Trịnh Mai (鄭枚) thi Võ cử, trúng Biện sĩ hợp thức, phụng thờ.
- Thái phó Quảng quận công (太傅廣郡公), húy là Hàng (杭), dự phong Dực vận tán trị công thần (翊運贊治功臣). Nay đích huyền tôn là huyện thừa Trịnh Giáo (鄭校) phụng thờ.
- Hữu Đô đốc Tựu quận công (右都督就郡公), húy là Dụ (𣛨). Nay đích huyền tôn Trịnh Trạo (鄭棹) phụng thờ.
- Thái bảo Lập quận công (太保立郡公), húy là Tuần (栒). Nay đích huyền tôn Trịnh Thực (鄭植) phụng thờ.
- Thiếu bảo Hựu quận công (少保佑郡公), húy là Đàm (橂). Nay huyền tôn là huyện thừa Trịnh Giám (鄭鑒) phụng thờ. (Công sáng tạo ra phép bài nghệ, nay các cuộc đánh bài phụng thờ ông làm tiên sư.)
- Thái truyền Lăng quận công (太傳陵郡公), húy là Bảng (榜), dự phong Dực vận tán trị công thần. Nay đích huyền tôn là huyện thừa Trịnh Trăn (鄭榛) phụng thờ.
- Thái truyền Xuyên quận công (太傳川郡公), húy là Quảng (櫎), không có con nối. Ngoại tôn được ban họ Trịnh là Trịnh Thực (鄭植) phụng thờ.
- Thái bảo Lộc quận công (太保祿郡公), húy là Nghi (𣗪). Nay đích tôn Trịnh Phấn (鄭奮) phụng thờ.
- Thái bảo Việt quận công (太保越郡公), húy là Đình (桯). Huyền tôn Trịnh Bân (鄭彬) "toát thủ" Biện sinh hợp thức (撮取弁生合式) phụng thờ. (Nay lưu chi ở xã Thịnh Đại (盛代社), tổng Phương Đàn (芳壇總), huyện Kim Bảng (金榜縣), phủ Lỵ Nhân (里仁府), thế hệ đến chi tư ở xã Y (伊社) tư riêng phụng thờ.)
- Thiếu úy Đình quận công (少尉廷郡公), húy là Nha (枒). Nay đích huyền tôn là Phó thiên hộ Trịnh Thụ (副千戶鄭樹) phụng thờ.
- Tả Tư mã Quốc lão Kiên quận công (左司馬國老堅郡公), húy là Quân (桾), dự phong Dực vận tán trị công thần. Về sau, huyền tôn Trịnh Bồi (鄭㭪) khoa Bính Tý thi Hương, đỗ bốn trường, lần lượt được bổ làm Tham nghị xứ Nghệ An (乂安處參議). Nay trưởng chi Trịnh Thảm (鄭棪) phụng thờ.
- Tả Tư không Nông quận công (左司空農郡公), húy là Tượng (欀), không có con nối.
- Thái truyền Hào quận công (太傳豪郡公), húy là Quang (桄). Nay đích huyền tôn là huyện thừa Hương Đề (鄉題) phụng thờ.
- Vạn quận công (萬郡公), húy là Xuân (椿), đã được trao tiết chế Vạn quận công, mở phủ Ninh Nghĩa (寧義府), vì phạm tội ác nghịch nên bị chặt chân mà chết. Cháu là Hải Lĩnh hầu (海嶺侯) Trịnh Quang (鄭桄), tằng tôn là Thạc Lĩnh hầu (碩嶺侯) Trịnh Côn (鄭棍) phụng thờ. Đến đờiChiêu Tổ Khang vương, triều đình ngưỡng mộ mà thu dụng, nay đã được giao quản binh. Năm Đinh Mùi, căn cứ lệ định về tông thất, không thấy bàn đến nữa, cũng không thấy ghi trong sổ sách tông đồ.