Giang đầu tản bộ

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

I[sửa]

Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

Tán phát cuồng ca tứ sở chi,
Lục tần phong khởi, tịch dương vi.
Bạch vân lưu thủy đồng vô tận,
Ngư phủ phù âu lưỡng bất nghi.
Vô lụy vị ưng chiêu quỉ trách[1],
Bất tài đa khủng tốc quan phi[2].
Niên niên thu sắc hồn như hử,
Nhân tại tha hương bất tự tri.

Xỏa tóc, hát ngông, đi dạo quanh.
Gió nổi lên từ đám rau xanh, bóng chiều đã nhạt.
Mây trắng cũng như dòng nước đều vô tận.
Bác chài và con chim âu nào có ngờ vực nhau đâu!
Không lụy thì chẳng làm gì quỉ trách được.
Vì bất tài nên việc quan hay sợ sai lầm.
Hàng năm sắc thu vẫn không thay đổi,
Chỉ khách tha hương không biết mà thôi!

II[sửa]

Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

Xúc ca thanh đoản, mạn thanh tường,
Bạch phát tiêu tiêu cổ đạo bàng.
Tế giản thủy thanh lưu tích vũ,
Bình sa nhân ảnh tại tà dương.
Quyên ai mạc báo sinh hà bổ[3],
Nhi nữ thành quần tử bất phương[4].
Hồi thủ cố hương thu sắc viễn,
Hoành sơn vân thị chính thương thương.

Hát gấp thì tiếng ngắn, hát thong thả thì tiếng dài.
Đầu bạc phơ, ta đi bên con đường cổ.
Lạch nhỏ tích tụ nước mưa chảy rào rào.
Bóng người lúc chiều tà in trên bãi cát.
Chưa báo đáp được mảy may, sống chẳng ích gì.
Trai gái hàng đàn, chết cũng không ngại.
Ngoảnh nhìn về phía quê nhà, vẻ thu xa lắc.
Mây và cây trên dãu Hoành Sơn một màu xanh biếc.

   




Chú thích

  1. Quỉ: chỉ những người ác, ở đây chỉ các quan trên hay bắt bẻ mình.
  2. Đại nam chính biên liệt truyện chép: "Khi ra làm quan, ông thường bị quan trên quở trách, nên lấy làm bực chí". Chắc là nói thời gian này.
  3. Quyên ai: quyên là giọt nước, ai là hạt bụi. Nghĩa bóng: mảy may. Đỗ Phủ có câu thơ Vị hữu quyên ai đáp thánh triều (Chưa báo đáp nhà vua được mảy may).
  4. Theo Gia phả thì người vợ đầu Nguyễn Du chỉ sinh được một người con trai. Bà vợ kế sinh được một người con trai. Lại còn có bà vợ thiếp sinh được mười trai, sáu gái.