Giang hành

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Giang hành - 江行
của Nguyễn Trãi


Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

西津初艤棹
風景便江湖
雨過山容瘦
天長鴈影孤。
滄浪何處是
漁釣好為徒
回首東華地
塵埃覺已無

Tây tân sơ nghị trạo,
Phong cảnh tiện giang hồ.
Vũ quá sơn dung sấu[1] ;
Thiên trường nhạn ảnh cô.
Thương lang[2] hà xứ thị ;
Ngư điếu hảo vi đồ.
Hồi thủ Đông-hoa[3] địa,
Trần ai giác dĩ vô[4].

Bến tây thuyền mới ghé mái,
Phong cảnh đã là giang hồ rồi.
Mưa qua rồi trông dáng núi gầy ;
Trời rộng bóng nhạn như đơn chiếc.
Thương lang ở nơi nào đây ?
Làm bạn với người chài cá cũng hay.
Quay đầu lại nhìn đất Đông-hoa,
Thấy mình đã không có bụi bặm nữa.

   




Chú thích cuối trang[sửa]

  1. Sấu: gầy. Mùa thu trời quang mấy tạnh, dáng núi gầy, nghĩa là những cây và đá vì không bị mây mù che phủ làm cho đường nét lu mờ đi, nhìn thấy rõ ràng, sắc cạnh như có vẻ gầy gò dơ xương
  2. Thương lang: tức là sông Hán; cũng có thuyết cho là sông Hạ, một dòng khác với sông Hán, là con sông nói trong bài ca « Ngư phủ » của Khuất Nguyên. Nguyễn Trãi hỏi sông Thương lang ở đâu để câu sau nói đến bạn chài cá, tất là nhớ đến bài « Ngư phủ » ấy
  3. Đông hoa: chỉ cửa thành do đó các quan ra vào Hoàng thành
  4. Ngoảnh lại nhìn chỗ cửa Đông hoa là chỗ phồn hoa bụi bặm thì thấy lòng mình đã lâng lâng sạch bụi bặm rồi