Hán văn độc tu 1932/Bài học thứ mười chín

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

I. Những câu vấn đáp[sửa]

1. 禽 鳥 何 以 能 飛? − Nghĩa: Chim chóc tại sao mà bay được?

禽 鳥 之 體,遍 (biếnkhắp) 生 毛 羽;具 有 四 肢,而 前 肢 爲 翼 (dựccánh) 其, 能 飛 以 此. 且 (thảvả) 鳥 骨 (cốtxương) 及 羽 毛 諸 管 (quảnống) 皆 中 空 而 無 髓 (tủy) 其 質 輕 故 能 自 舉 於 空 氣 之 中 也. − Nghĩa: Cái mình của chim chóc, khắp sanh lông và lông cánh; nó có đủ tứ chi mà chi trước là cặp cánh, nhờ đó mà nó bay được. Vả lại xương chim cùng các ống lông và lông cánh của nó, đều trống ở trong mà không có tủy, chất nó nhẹ cho nên cất mình ở trong không khí được vậy.

2. 吾 人 何 由 知 有 空 氣 ? − Nghĩa: Chúng ta bởi đâu biết có không khí?

空 氣 者,視 (thịxem) 之, 無 形, 聽 無 聲 (thinhtiếng), (ngửi) 之 無 味, 吾 人 生 息 (tứcthở) 其 間,未 嘗 覺 也 ; 惟 揮 (huyvảy) (phiếncái quạt) 時,覺 有 涼 (lươngmát) 風 拂 (phất) 面,則 空 氣 之 動 而 爲 此 也: 於 此 知 之. − Nghĩa: Cái vật kêu bằng không khí: xem đó không hình, nghe đó không tiếng, ngửi đó không mùi, chúng ta sống và thở ở trong nó, chưa hề biết nó vậy. Duy có khi vẫy cái quạt, biết có gió mát phất qua mặt, thì là bởi không khí động mà làm điều đó vậy: do đó mà biết có không khí.

3. 魚 在 水 中,亦 需 (nhucần dùng) 空 氣 乎?− Nghĩa: Cá ở trong nước, cũng có cần dùng không khí chăng?

凡 物 皆 賴 (lạinhờ) 空 氣 以 生,豈 (khởi) 魚 獨 (độcmột) 在 例 外? 須 (tutua) 知 水 中 亦 有 空 氣; 魚 吸 水 時,水 由 口 入 而 由 鰓 (taicái mang) 出,其 吸 入 之 空 氣 則 抒 (trửchứa) 於 鰾 (phiếnbong bóng) 中. 故 魚 之 吸 水 即 其 吸 空 氣 也. − Nghĩa: Phàm vật đều nhờ không khí để sống, há một mình con cá lại không như vậy? Phải biết trong nước cũng có không khí; khi cá hút nước, nước bởi miệng vào mà bởi cái mang ra, còn không khí nó đã hút vào thì chứa trong bong bóng. Cho nên con cá hút nước, tức là nó hút không khí vậy.

4. 鯨 魚 之 形 狀 如 何? 有 謂 其 非 魚,然 乎 ? 否 耶 ? − Nghĩa: Hình trạng của con cá ông ra thế nào? Có người nói nó không phải loài cá, phải hay là chăng?   

鯨 魚, 身 長 數 丈 (trượngmười thước), 口 大 爲 喉 (hầuhọng) 小,其 尾 鰭 (kỳ là cái vi cá) 與 凡 魚 無 異,然 無 鱗 鰓,又 非 卵 (noãntrứng) 生 ,故 動 物 學 承 不 以 入 魚 類. − Nghĩa: Con cá ông, mình dài vài trượng, miệng lớn mà họng nhỏ, cái đuôi và cái vi của nó không khác gì với mọi con cá khác, nhưng nó không có vảy và mang, lại chẳng phải đẻ trứng, cho nên nhà động vật học chẳng đem nó vào loài cá.

5. 卵 生 者,獨 有 魚 類 而 己 乎 ? − Nghĩa: Vật đẻ trứng, chỉ có một mình loài cá mà thôi sao?

否,鳥 類 亦 卵 生;惟 鳥 卵 必 孵 (phuấp trứng) 之 而 後 成 鶵 (sồchim con) . − Nghĩa: Không phải, loài chim cũng đẻ trứng; duy trứng chim thì phải ấp đó mà sau mới nên chim con vậy.

6. 人 及 獸 之 生 也 謂 之 何? − Nghĩa: Sự đẻ của loài người và của loài thú thì gọi là gì?

凡 獸 皆 胎 (thai) 生,惟 人 亦 然. 胎 生 者 皆 有 乳 (nhũ), 所 以 飼 (tựnuôi) 其 兒 也. 鯨 魚 亦 胎 生. − Nghĩa: Phàm loài thú đều đẻ ra thai, buôi người ta cũng vậy. Vật nào đẻ bằng thai thì đều có vú, để mà nuôi con mình. Cá ông cũng đẻ bằng thai.

II. Cắt nghĩa thêm[sửa]

Tiền chi là cặp cánh, đối với hậu chi là cặp giò.

có hai nghĩa: một là vả chăng, một nghĩa là vả lại. Đây là vả lại. Nghĩa vả lại có khi nói 且 也; nghĩa vả chăng có khi nói 且 夫 (phù).

nghĩa là thở, cũng có nghĩa là hơi thở. Lại cũng có nghĩa là sanh. Vậy có khi nói 生 息 mà nghĩa như sanh sản. Tức lại có nghĩa là tiền lời nữa, hay nói lợi tức.

khác với . Giác nghĩa như chữ sentir.

揮 扇 tức là cầm quạt mà quạt.

tuy, là phải, tu triil faut savoir.

Chữ phiêu chỉ nói được là cái bong bóng cá mà thôi; còn bong bóng người ta là 膀 胱 (bàng quang), hay là (phao).

然 乎 否 耶 cũng như nói 然 耶 hay là 然 否, có điều người ta cũng có quen nói như vậy, phải học cho biết.

Thước Tàu với thước ta khác nhau, thước Tàu vắn hơn thước ta (hai thước năm ta mới bằng một thước tây), nhưng cũng đều gọi mười thước là một trượng cả. Vậy trượng ta cũng là dài hơn trượng Tàu vậy.

độc, nghĩa là unique, uniquement, song tiếng ta không có chữ gì cắt nghĩa, phải dùng chữ một.

Phàm con của loài chim mới nở ra thì gọi bằng sồ. Con của chim gì thì để trên nó cái tên của chim ấy đặng phân biệt, như gà con thì nói kê sồ, vịt con thì nói áp () sồ.

III. Văn pháp Chữ[sửa]

Chữ thuộc mối tiếng préposition, mẹo Tàu kêu bằng giới tự (介 字), thường thường để nối verbe với complément, nhưng có thể chia làm ba nghĩa khác nhau.

Một là để chỉ nghĩa verbe đụng đến ai, tiếp với đâu, khi ấy giống như chữ à.

Hai là để chỉ nghĩa verbe ra bởi đâu, khi ấy giống với chữ de.

Vậy như câu trong “Mạnh Tử”: 生 於 其 心 害 於 其 政 (sanh bởi lòng nó, hại đến việc chánh nó) thì chữ ư trên là de, mà chữ ư dưới là à.

Câu trong “Trang Tử”: 莊 子 出 於 山,舍 () 於 故 人 之 家 (Trang tử ra từ núi, ở lại nơi nhà bạn cũ), thì chữ ư trên là de, mà chữ ư dưới là à.

Ba là để chỉ nghĩa so sánh. Khi dùng như vầy thì nó không đi theo verbe mà đi theo một adjectif. Tùy theo adjectif mà nó đi theo, nó sẽ giống với chữ plus que hay moins que. Như nói:

() 子 猛 (mãnhmạnh) 於 虎 = con sư tử mạnh hơn con cọp;

此 井 之 水 清 於 他 井 之 水 = Nước của giếng nầy trong hơn nước của giếng khác.

Khi ấy thì chữ ư giống với plus que.

Còn như nói:

吾 弟 作 字 劣 (liệtdở) 於 我 = Em tôi viết chữ dở hơn tôi;

此 女 之 貌 (mạotuồng mặt) (xấu) 於 吾 兄 之 女 = Tuồng mặt đứa gái nầy xấu hơn con gái anh tôi.

Khi ấy (nếu cứ theo ý nghĩa) thì nó giống với chữ moins que.

Hãy nhớ rằng trong những câu so sánh có đặt chữ như vầy thì không bao giờ dùng verbe hết, mà chỉ đặt một adjectif trên chữ ư thôi, coi adjectif ấy tức là verbe đó.

IV. Thành ngữ dùng vào Quốc văn[sửa]

成 人 之 美 = Thành nhân chi mỹ: Làm nên sự tốt của người khác. Do câu trong “Luận ngữ”: Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác; tiểu nhân phản thị = Người quân tử làm nên sự tốt của người, chẳng làm nên sự dữ của người, kẻ tiểu nhân thì trái lại. − Thành đó có ý là tán thành.

危 如 累 卵 = Nguy như lụy noãn: Nguy hiểm như là chồng những cái trứng. Trứng chồng lên thì tất phải đổ xuống mà bể đi. Ý nói nguy lắm.

弄 假 成 真 = Lộng giả thành chơn: Bỡn giả nên thiệt. Sự gì ban đầu làm dỡn chơi, không ngờ về sau thành thiệt. Lộngbỡn, dỡn.

竹 頭 木 屑 = Trúc đầu mộc tiết: Đầu đày tre và mạt cưa cây. Ý nói là đồ bỏ, đồ vô dụng mà cũng có khi hữu dụng. − Tiếtmạt, bột vụn. Dưới bốn chữ đó còn có bốn chữ 皆 爲 有 用 nữa.

言 翼 長 飛 = Ngôn dực trường phi: Cái cánh của lời nói bay dài. Ý nói một lời nói ra thì thiên hạ đồn đãi khắp hết, như nó có cánh mà bay vậy.

後 藥 成 功 = Hậu dược thành công: Thuốc sau nên công. Ý nói người bịnh uống nhiều thứ thuốc, mấy thứ trước vẫn có công hiệu, nhưng mà chưa thấy, đến thứ sau uống vào thấy lành bịnh, thì ai cũng đổ công cho thuốc sau, chớ kỳ thiệt là nhờ thuốc trước.

V. Tập đặt chữ 於[sửa]

Tập đặt một nghĩa thứ ba mà thôi, vì hai nghĩa trước không khó.

1. – Xe hỏa đi mau hơn tàu hỏa. 2. – Con lừa hiền hơn con ngựa. 3. – Ở Sài Gòn đi Mang Cốc gần hơn đi Hà Nội. 4. – Con thỏ chạy mau hơn con chó. 5. – Người giống trắng văn minh hơn người giống vàng. 6. – Người đời nay biết rộng hơn người đời xưa.

1. 火 車 之 行 速 於 火 般.  2. (lừa) (thuầndompté) 於 馬. 3. 由 柴 棍 往 曼 谷 近 於 往 河 內.  4. 免 之 走 疾 (tậtmau, kíp, nhanh) 於 犬.  5. 白 種 人 文 明 於 黃 種 人.  6. 今 人 之 知 識 廣 於 古 人.

PHAN KHÔI