Họa hương tiên sinh vận giản chư đồng chí

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

愁來咄咄漫書空
天地無窮嘆轉蓬
世事灰心頭向白
衰顏借酒暈生紅
覽輝擬學鳴陽鳳
遠害終為避弋鴻
淪落天涯俱是客
年來出處略相同

Sầu lai « đốt đốt[1] » mạn thư không ;
Thiên địa vô cùng thán chuyển bồng.
Thế sự hôi tâm đầu hướng bạch ;
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng.
Lãm huy nghĩ học minh dương phượng[2] ;
Viễn hại chung vi tỵ dặc hồng[3].
Luân lạc thiên nhai câu thị khách,
Niên lai xuất xử[4] lược tương đồng.

Sầu đến, luống viết «cha chả» trên không;
Trời đất vô cùng, thân mình xoay chuyển như cỏ bồng.
Việc đời đã nguội lòng, đầu đã thành bạc;
Mặt gầy gò mượn rượu cho choáng đỏ ửng lên.
Muốn học chim phượng thấy sáng hót ánh mặt trời;
Rốt cuộc làm chim hồng tránh tên để lánh hại.
Chúng ta đều là khách luân lạc bên trời cả.
Mấy năm nay chúng ta xuất và xử đại khái giống nhau.

   




Chú thích

  1. Đốt đốt: Ân Hạo ở đời Tấn, có tiếng thanh cao, đời Kiến Nguyên làm đô đốc Dương Dự Từ Duyện Thanh ngũ châu, đánh giặc bại trận bị phế làm thứ nhân, không hề tỏ lời oán hận, suốt ngày chỉ lấy ngón tay viết trên không mấy chữ: « Đốt đốt quái sự » (Cha chả chuyện lạ!)
  2. Minh dương phượng: Bài « Điếu Khuất Nguyên văn » của Giả Nghị đời Hán có câu: « Phượng hoàng tường vu thiên nhẫn hề, lãm đức huy nhi hạ chi », nghĩa là chim phượng bay liệng trên cao nghìn nhẫn, thấy ánh sáng của đức mà sà xuống. Lý Thiện Cẩm đời Đường làm ngự sử, dâng sớ can vua về việc xây cung điện xa hoa, người đời khen Lý là « minh dương phượng » là chim phượng hót lúc mặt trời mọc
  3. Chim hồng vì sợ người ta bắn mà phải bay tung lên cao, ý nói bây giờ mình ở xa triều đình là tránh chỗ có thể xẩy ra hoạn nạn
  4. Xuất xử: khi ra làm quan, khi lui về ở nhà