Hoàng Hà

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch giả

一氣茫茫混沌前
其來無際去無邊
天潢巨派九千里
聖主休期五十年
懷古未能忘夏禹
至今誰復羨張騫
秋中可有浮槎過
我欲乘之再上天

Nhất khí mang mang hỗn độn[1] tiền
Kì lai vô tế khứ vô biên
Thiên Hoàng[2] cự phái cửu thiên lí
Thánh chủ hưu kì ngũ thập niên[3]
Hoài cổ vị năng vong Hạ Vũ[4]
Chí kim thùy phục tiện Trương Khiên[5]
Thu trung khả hữu phù tra quá
Ngã dục thừa chi tái thượng thiên[6]

Một bầu khí mênh mông trước thời hỗn độn
Không biết từ đâu đến, chẳng biết chảy về bến bờ nào
Là nhánh lớn của Sông Trời, dài chín ngàn dặm
Vào thời kì vua thánh, năm trăm năm ra đời một lần
Nhớ chuyện xưa, không thể quên vua Hạ Vũ
Đến nay còn ai muốn làm như Trương Khiên
Giữa thu mà có bè vượt sông
Ta cũng muốn cưỡi nó lên trời lần nữa

   




Chú thích

  1. Hình thái vũ trụ khi chưa phân trời đất
  2. Tên một vì sao trên trời, gần sông Ngân Hà. Cũng có nghĩa là ao trời
  3. Theo truyền thuyết ngày xưa, cứ năm trăm năm, nước Hoàng Hà lại trong, đó là diềm có thánh chúa ra đời, thiên hạ được thái bình thịnh vượng
  4. Vua Vũ nhà Hạ cho đào sông ngòi thoát nước, trừ nạn lụt cho dân
  5. Người đời Hán, theo Vệ Thanh đánh Hung nô được phong tước hầu
  6. Sách Bác vật chí chép: sông Thiên Hà (tức Ngân Hà) thông với bể. Có người hàng năm đến. Tháng tám thấy bè đi qua bể, liền cưỡi lên, đi đến một tòa thành có nhiều người cư ngụ, đàn bà dệt vải, đàn ông dắt trâu uống nước ở ngoài bến. Người ta bảo người ấy đã đi đến sông Ngân Hà, gặp Chức Nữ và Ngưu Lang