Kỳ lân mộ

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

河北道中五尺豐碑當大路
中有楷字大書騏麟墓
道傍故老為余言
永樂四年貢麟道死喪此土
官命立碑用存故
此事迄今已經古
但見官道蕩蕩無丘陵
其旁不封亦不樹
片石傾欺苔蘚蔓
淒風朝吹暮苦雨
吁嗟麟兮何由睹
吁嗟麟兮天上祥
骨肉委之虫蛾蠹
麟兮麟兮爾何苦
何況燕棣何如人
奪姪自立非仁君
暴怒一逞夷十族
大棒巨鑊烹忠臣
五年所殺百餘萬
白骨成山地血殷
麟兮果為此人出
大是妖物何足珍
或是爾生不忍見殺戮
先就此地捐其身
吁嗟仁獸兮騏麟
於世不見以為祥
見之不過同犬羊
若道能為聖人出
當世何不南遊翔

Hà Bắc đạo trung ngũ xích phong bi đương đại lộ
Trung hữu khải tự đại thư kỳ lân mộ
Đạo bàng cố lão vị dư ngôn
Vĩnh Lạc[1] tứ niên cống lân[2] đạo tử táng thử thổ
Quan mệnh lập bi dụng tồn cố
Thử sự hất kim dĩ kinh cổ
Đãn kiến quan đạo đãng đãng vô khâu lăng
Kỳ bàng bất phong diệc bất thụ
Phiến thạch khuynh khi đài tiển man
Thê phong triêu xuy mộ khổ vũ
Hu ta lân hề hà do đổ
Hu ta lân hề thiên thượng tường
Cốt nhục ủy chi trùng nghĩ đố
Lân hề lân hề nhĩ hà khổ
Hà huống Yên Đệ[1] hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần[3]
Ngũ niên sở sát bách dư vạn[4]
Bạch cốt thành sơn địa huyết an
Lân hề quả vị thử nhân xuất
Đại thị yêu vật hà túc trân
Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục
Tiên tựu thử địa quyên kỳ thân
Hu ta nhân thú hề kỳ lân
Ư thế bất kiến dĩ vi tường
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất
Đương thế hà bất nam du tường[5].

   




Chú thích

  1. a ă Vĩnh Lạc, Yên Ðệ: Yên Ðệ, con thứ sáu của Minh Thái Tổ 明太祖 (1368-1398), đã cướp ngôi của cháu là Minh Huệ Ðế 明惠帝 (1399-1402), tự lập lên làm vua Minh Thành Tổ 明成祖, niên hiệu Vĩnh Lạc 永樂 (1403-1424). Ðại thần Phương Hiếu Nhụ chống lệnh không chịu thảo chiếu cho Yên Ðệ lên ngôi, bị đánh tan xác, cả mười họ bị tru di
  2. Con kỳ lân đem dâng vua. Kỳ là con đực, Lân là con cái, gọi chung là kỳ lân. Theo sách cổ. kỳ lân là giống linh thú, không giẫm lên vật sống, không bẻ cành cây tươi, nên gọi là giống thú có nhân, chỉ khi nào có thánh nhân thì kỳ lân mới xuất hiện. Do đó kỳ lân là điềm lành báo hiệu thời thịnh trị
  3. Yên Vương Đệ là Chú Minh Huệ Đế (1399-1402) cướp ngôi cháu làm vua, gọi là Minh Thành Tổ. Y sai đại thần là Phương Hiếu Nhụ thảo chiếu lên ngôi. Hiếu Nhụ viết bốn chữ lớn "Yên tặc thoán vị" (giặc Yên cướp ngôi) rồi ném bút nói: "Chết thì chết, chiếu không thảo". Đệ giận bảo: "Không nghĩ đến chín họ sao?" (chín họ là tổ, cố, ông, cha, bản thân, và con cháu chút chít). Nhụ giận bảo: "Dù giết mười họ ta cũng không sợ". Tức thì Đệ cho đánh tan xác và phanh thây Hiếu Nhụ rồi bắt các học trò ông quy làm một họ, cộng thành mười, đem giết hết
  4. Minh Thành Tổ là một ông vua bạo tàn, thích gây chiến để mở rộng đất đai, như Nguyễn Trãi đã nói nhiều lần trong các bức thư ở tập Quân trung từ mệnh. Chính Minh Thành Tổ đã đã xâm lược nước Việt, vơ vét vàng bạc, giết hại nhân dân, lại bắt hàng vạn đinh tráng, phụ nữ và nhi đồng giải về Trung Quốc, làm nô lệ và xây đắp thành Bắc Kinh để dời kinh đô lên đó
  5. Thời kỳ đó, ở Việt Nam, Bình Định Vương Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi khởi nghĩa chiến thắng quân Minh (1418-1427). Nguyễn Du mượn cái chết của con kỳ lân để nói lên lòng căm giận của mình đối với tên bạo chúa ấy. Trước ông trừ Nguyễn Trãi, ít có tác giả Việt Nam nói rõ tội ác của Minh Thành Tổ, thậm chí có người còn theo sử gia phong kiến Trung Quốc cho là vị vua anh hùng