Lâm cảng dạ bạc

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

港口咱潮暫繫舠
韽韽隔岸響蒲牢
船窗客夜三更雨
海曲秋風十丈濤
膜外虛名身是幻
夢中浮俗事堪拋
一生氣習渾如昨
不為羈愁損舊豪

Cảng khẩu thanh triều tạm hệ đao,
Am am cách ngạn hưởng bồ lao.
Thuyền song khách dạ tam canh vũ ;
Hải khúc[2] thu phong thập trượng đào.
Mạc ngoại hư danh thân thị huyễn ;
Mộng trung phù tục sự kham phao.
Nhất sinh khí tập hồn như tạc,
Bất vị ky sầu tổn cựu hào.

Cửa lạch nghe thủy triều tạm buộc thuyền con,
Văng vẳng cách bờ nghe tiếng bồ lao (chuông).
Bên cửa thuyền đêm ở đất khách mưa suốt ba canh ;
Trong vụng biển gió thu sóng nổi mười trượng.
Danh hão để ngoài lòng, thân là ảo anh ;
Đời phù sinh trong giấc mộng, việc đáng quăng đi.
Một đời quen nết vẫn như ngày trước,
Không vì mối sầu xa nhà mà sút hào khí cũ đi.

   




Chú thích

  1. Lâm cảng: Đại Nam nhất thống chí chép là Lẫm cảng, tức là sông Thần Phù ở địa phận các xã Thần Phù, Phù Sa, Ngọc Lâm (có lẽ tên Lâm cảng là do Ngọc Lâm mà ra), huyện Yên Mô, xưa có ngã lạch thông với sông Hổ (hạ lưu của sông Lâm Sàng đổ ra cửa Càn). Hồ Quý Ly chống quân Minh sai chở đá lấp ngã thông ấy, nay lạch ấy đã thành đất bằng, chỉ còn lại một cái đầm gọi là đầm Lẫm. Lê Thánh Tông trong bài thơ vịnh cửa Thần Phù có câu: « Chương hoàng (tức Hồ Quý Ly) xem chở đá lấp sông »
  2. Bản Dương Bá Cung chép là « hải khách 海 客», các bản khác chép là « hải khúc 曲 », nghĩa là vụng biển