Mạn hứng (II)

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Xem tác phẩm có tựa đề tương tự tại Mạn hứng.

I - 其一[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

朴散淳漓聖道湮
吾儒事業杳無聞
逢時不作商岩雨
退老思耕谷口雲
每嘆百年同過客
何曾一飯忍忘君
人生識字多憂患
坡老曾云我亦云

Phác tán thuần ly[1] thánh đạo nhân[2] ;
Ngô nho sự nghiệp diểu vô văn[3].
Phùng thì bất tác Thương nham vũ[4] ;
Thoái lão tư canh Cốc khẩu vân[5].
Mỗi thán bách niên đồng quá khách ;
Hà tằng nhất phạn nhẫn vong quân[6].
« Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn[7] »,
Pha lão tằng vân ngã diệc vân.

Phác đã tan, thuần đã rữa, đạo thánh mai một.
Sự nghiệp của nhà nho ta chẳng tiếng tăm gì.
Gặp thời không làm được mưa ở Thương-nham ;
Đến già lui về cày mây ở Cốc-khẩu.
Thường than trăm năm cõi đời như khách qua đường;
Chưa bao giờ từng một bữa ăn mà không nhớ đến vua.
Đời người biết chữ lại nhiều lo lắng hoạn nạn,
Ông già Tô Đông Pha từng nói thế, ta cũng nói thế.

II - 其二[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

九萬摶風記昔曾
當年錯比北溟鵬
虛名自嘆成箕斗
後學誰將作準繩
一片丹心真汞火
十年清職玉壺冰
優游且復言余好
俯仰隨人謝不能

Cửu vạn[8] đoàn phong ký tích tằng ;
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng[9].
Hư danh tự thán thành cơ đẩu[10] ;
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng[11] ?
Nhất phiến đơn tâm chân cống hỏa[12] ;
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng[13].
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu ;
Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng[14].

Cỡi gió lên chín vạn dặm, nhớ xưa đã từng có chí ấy ;
Bấy giờ toan ví mình với chim bằng biển bắc.
Hư danh tự than như sao cơ sao đẩu (như vô dụng vật);
Hậu học ai lại đem mình làm chuẩn thằng!
Một tấm lòng son, nóng hừng như lửa lò luyện thuốc đơn ;
Mười năm chức rảnh, lòng như băng trong bầu ngọc.
Lại bảo rằng ta thích ưu du !
Đến như cúi ngửa theo người thì xin từ không thể làm được.

III - 其三[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

小院陰陰石徑斜
翛然宦況似僧家
宦情易怯傷弓鳥
暮影難留赴壑蛇
夢覺故園三徑菊
心清活水一甌茶
回頭六十年前事
雙鬢星星兩眼花

Tiểu viện âm âm thạch kính tà[15] ;
Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia.
Hoạn tình[16] dị khiếp thương cung điểu[17] ;
Mộ cảnh nan lưu phó hác xà[18].
Mộng giác cố viên tam kính cúc ;
Tam thanh hoạt thủy nhất âu trà.
Hồi đầu lục thập niên tiền sự ;
Song mấn tinh tinh lưỡng nhãn hoa[19].

Viện nhỏ âm u với đường đá xiên ;
Vắng vẻ cảnh làm quan mà giống nhà chùa.
Tình hình làm quan dễ khiếp con chim đã bị cung bắn ;
Bóng xế buổi chiều khó giữ được con rắn đương vào hang.
Tỉnh mộng về vườn cũ, có ba dặng cúc ;
Rửa lòng cho sạch, có nước chảy với một âu chè.
Quay đầu lại nhớ việc sáu chục năm về trước ;
Hai mái tóc đã lốm đốm, hai mắt đã hoa.

   




Chú thích

  1. Phác tán thuần ly: cái thuần phác tự nhiên của con người ở buổi đầu đã tan rã dần
  2. Thánh đạo nhân: là đạo thánh đã mai một. Bản Dương Bá Cung chép « Thánh đạo chân 真 » thì không có nghĩa, các bản khác chép là nhân 湮
  3. Diểu vô văn: vắng chẳng nghe
  4. Thương nham vũ: Cao Tông nhà Thương mộng thấy thánh nhân, sai người đi tìm ở đồng nội, tìm được Duyệt đang đắp đất ở Phó nham nên đặt tên là Phó Duyệt, dùng làm tướng, từng nói với Duyệt rằng: Dùng ngươi làm tướng, như đi gặp sông lớn thì dùng ngươi làm thuyền, gặp trời đại hạn thì dùng ngươi làm mưa. Do đó, người sau nói « chèo Phó », « mưa Phó »
  5. Cốc khẩu vân: mây ở Cốc Khẩu. Trình Tử Chân đời Hán Thành Đế ẩn ở Cốc Khẩu (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), có tiếng học đạo giữ mình, được mời ra làm quan không đi. Cốc khẩu nghĩa đen là « cửa rộng »
  6. Tô Đông Pha nói: Đỗ Tử Mỹ (Đỗ Phủ) đói rét lưu lạc
  7. Câu này cũng là câu của Tô Đông Pha
  8. Cửu vạn: sách Trang Tử (Tiêu dao du) nói: Chim bằng vỗ cánh cưỡi gió bay lên chín vạn dặm liền
  9. Sách Trang Tử nói: Chim bằng dời đến biển nam, nước động ba nghìn dặm, vỗ cánh cưỡi gió lên chín vạn dặm liền
  10. Thành cơ đẩu: nghĩa là thành sao Cơ và sao Đẩu. Kinh Thi bài « Đại đông » có câu: « Phương Nam có sao Cơ (cái thúng), không thể lấy để vãi gieo được. Phương Bắc có sao Đẩu (đấu rượu), không thể lấy để rót rượu được ». Do nghĩa cơ đẩu trong bài thơ ấy, Tô Đông Pha lại có câu thơ rằng: « Cố ngã hư danh đãn cơ đẩu », nghĩa là: Xem hư danh của ta, chỉ như sao Cơ sao Đẩu. Nguyễn Trãi cũng dùng chữ « cơ đẩu » theo nghĩa là vật vô dụng
  11. Nghĩa là có tài giỏi gì đâu mà toan làm mực thước để lại cho hậu sinh
  12. Lò luyện linh đơn của tiên
  13. Ngọc hồ băng: băng là vật trong sạch mà lại đựng trong nậm ngọc (ngọc hồ), ví tiết thanh cao
  14. Bất năng: chẳng làm nên, chẳng làm nổi
  15. Thạch kính tà: nghĩa là đường đá tắt xiên, đường đi qua đá, có đá ngăn trở nên phải đi xiên quanh đá
  16. Hoạn tình: tức là cảnh làm quan
  17. Thương cung điểu: chim bị thương vì cung
  18. Phó hác xà: buổi chiều rắn về hang, vì sắp tối nên không giữ nó lại được, ví như người làm quan về già thì nhất định về nghỉ
  19. Lưỡng nhãn hoa: mắt hoa không thấy rõ