Bước tới nội dung

Nê-hê-mi/13

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
(Đổi hướng từ Nê-hê-mi/Chương 13)
Nê-hê-mi của không rõ, do Phan Khôi dịch
Đoạn 13

Lòng sốt-sắng của Nê-hê-mi và luật-pháp. — Diệt các thứ tệ

131 Trong ngày đó, người ta đọc sách Môi-se có dân-sự nghe; trong đó có chép rằng người Am-môn và người Mô-áp đời đời không được vào hội của Đức Chúa Trời, 2 bởi vì chúng nó không đem bánh và nước đến đón dân Y-sơ-ra-ên, song dùng bạc thỉnh Ba-la-am đến rủa-sả dân Y-sơ-ra-ên (nhưng Đức Chúa Trời chúng tôi đổi sự rủa-sả ra sự phước-hạnh). 3 Xảy khi chúng đã nghe luật-pháp rồi, bèn phân-rẽ khỏi Y-sơ-ra-ên các dân ngoại-bang.

4 Vả, trước việc đó, thầy tế-lễ Ê-li-a-síp, mà đã được lập coi-sóc các phòng của đền Đức Chúa Trời chúng tôi, 5 và là bà-con với Tô-bi-gia, có sắm-sửa cho người ấy một cái phòng lớn, là nơi trước người ta dùng để những của-lễ chay, hương-liệu, khí-dụng, thuế một phần mười về lúa-mì, rượu mới, và dầu, tức những vật theo lệ đã định cho người Lê-vi, kẻ ca-hát, và người canh-giữ cửa, luôn với của-lễ dâng giơ lên của thầy tế-lễ. 6 Khi các đều đó xảy đến thì không có tôi ở tại Giê-ru-sa-lem; vì nhằm năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua Ba-by-lôn, tôi mắc phải trở về cùng vua; cuối một ít lâu, tôi có xin phép vua đặng đi.

7 Tôi đến Giê-ru-sa-lem, bèn hiểu đều ác mà Ê-li-a-síp vì Tô-bi-gia đã làm ra, vì có sắm-sửa cho người một cái phòng trong hành-lang của đền Đức Chúa Trời. 8 Tôi thấy đều đó lấy làm cực tệ, nên quăng ra khỏi phòng ấy các vật-dụng của nhà Tô-bi-gia. 9 Đoạn, tôi biểu người ta dọn cái phòng ấy cho sạch-sẽ; kế ấy tôi đem vào lại các khí-dụng của đền Đức Chúa Trời, của-lễ chay và hương-liệu.

10 Tôi cũng hay rằng người ta không có cấp các phần của người Lê-vi cho họ; vì vậy, những kẻ ca-hát và người Lê-vi hầu-việc, ai nấy đều đã trốn về đồng-ruộng mình. 11 Tôi bèn quở-trách các quan-trưởng, mà rằng: Cớ sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ như vậy? Đoạn, tôi hiệp lại chúng mà đặt họ trong chức cũ mình. 12 Bấy giờ, cả Giu-đa đều đem đến trong kho thuế một phần mười về lúa-mì, rượu mới, và dầu. 13 Tôi đặt Sê-lê-mia, thầy tế-lễ, Xa-đốc, ký-lục, và Phê-đa-gia trong các người Lê-vi, coi các kho-tàng; còn Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, làm phó; các người ấy được kể là trung-thành, và bổn-phận chúng là phân-phát vật cho anh em mình

14 Đức Chúa Trời tôi ôi! vì cớ đều nầy, xin nhớ đến tôi, và chớ bôi-xóa các việc tốt-lành mà tôi đã làm vì đền của Đức Chúa Trời tôi và về đều phải gìn-giữ tại đó.

15 Về lúc đó, tôi thấy trong Giu-đa, mấy người ép nho nơi máy ép rượu nhằm ngày sa-bát, đem bó lúa mình vào, chở nó trên lừa, và cũng chở rượu, trái nho, trái vả, và các vật nặng, mà đem về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Ngày chúng nó bán vật thực ấy, tôi có làm chứng nghịch cùng chúng nó. 16 Cũng có người Ty-rơ ở tại đó, đem cá và các thứ hàng-hóa đến bán cho người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. 17 Bấy giờ tôi quở-trách các người tước-vị Giu-đa, mà rằng: Việc xấu-xa các ngươi làm đây là chi, mà làm cho ô-uế ngày sa-bát? 18 Tổ-phụ các ngươi há chẳng đã làm như vậy sao? Nên nỗi Đức Chúa Trời há chẳng có dẫn tai-họa kia đến trên chúng ta và trên thành nầy ư? Còn các ngươi làm ô-uế ngày sa-bát mà tăng-thêm cơn thạnh-nộ cho Y-sơ-ra-ên!

19 Ấy vậy, khi các cửa Giê-ru-sa-lem khỏi khuất trong bóng tối trước ngày sa-bát, tôi bèn truyền người ta đóng cửa lại và dặn biểu chúng nó chỉ mở nó ra sau ngày sa-bát; lại cắt đặt mấy kẻ trong đầy-tớ tôi giữ cửa để không ai gánh chở đồ vào thành trong ngày sa-bát. 20 Vậy, kẻ buôn người bán các thứ hàng-hóa một hai lần ban đêm phải ngủ ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. 21 Đoạn, tôi quở-trách chúng nó mà rằng: Cớ sao các ngươi ban đêm ngủ tại trước vách-thành như vậy? Nếu các ngươi còn làm nữa, tất ta sẽ tra tay trên các ngươi. Từ lúc đó về sau, chúng nó không có đến nhằm ngày sa-bát nữa. 22 Tôi dạy-biểu người Lê-vi hãy dọn mình cho thánh-sạch và đến canh-giữ các cửa, đặng biệt ngày sa-bát ra thánh. Hỡi Đức Chúa Trời tôi ôi! xin hãy vì tôi nhớ đến đều đó, và xin thương-xót tôi tùy sự nhân-từ lớn-lao của Ngài.

23 Cũng trong lúc đó, tôi thấy những người Giu-đa lấy đờn-bà Ách-đốt, Am-môn, và Mô-áp, làm vợ; 24 con-cái của chúng nó nói phần nửa tiếng Ách-đốt, không biết nói tiếng Giu-đa, nhưng nói tùy theo tiếng của dân nầy hay là dân kia. 25 Tôi quở-trách chúng nó, rủa-sả chúng nó, đánh đập một vài người trong chúng nó, nhổ tóc chúng nó, biểu chúng nó chỉ Đức Chúa Trời thề, mà rằng: Các ngươi sẽ không gả con gái mình cho con trai họ, hay là cưới con gái họ cho con trai mình, hoặc là cưới cho chánh mình các ngươi! 26 Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, há chẳng có phạm tội trong đều đó sao? Vả, trong nhiều dân-tộc không có một vua nào giống như người; người được Đức Chúa Trời của mình thương-yêu, và Đức Chúa Trời đặt người làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên: dẫu vậy, người cũng bị đờn-bà ngoại-bang xui cho phạm tội! 27 Chúng ta há sẽ nghe theo các ngươi mà làm những đều ác lớn nầy, lấy người đờn-bà ngoại-bang mà vi-phạm cùng Đức Chúa Trời chúng ta sao? 28 Có một trong các con trai của Giô-gia-đa, cháu Ê-li-a-síp, thầy tế-lễ thượng-phẩm, là rể của San-ba-lát, người Hô-rôn; vì cớ ấy tôi đuổi hắn khỏi tôi. —29 Hỡi Đức Chúa Trời tôi ôi! xin nhớ lại chúng nó, vì chúng nó đã làm ô-uế chức tế-lễ và sự giao-ước của chức tế-lễ và của người Lê-vi.

30 Như vậy, tôi dọn sạch chúng cho khỏi các kẻ ngoại-bang, và định ban-thứ cho những thầy tế-lễ và người Lê-vi, mỗi người trong chức-việc mình; 31 cũng khiến dân-sự dâng củi theo kỳ nhứt-định và các thổ-sản đầu mùa.

Đức Chúa Trời tôi ôi, xin hãy nhớ đến tôi mà làm ơn cho tôi!