Ngẫu đề công quán bích

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

I[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

閶闔門前春色闌,
隔江遙對御屏山。
春從江上來何處,
人倚天涯滯一官。
滿地繁聲聞夜雨,
一床孤悶敵春寒。
桃花莫仗東君意,
傍有風姨性最酸。

Xương hạp môn[1] tiền xuân sắc lan
Cách giang diêu đối Ngự Bình[2] san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng đông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan

Trước cửa rồng sắc xuân sắp tàn
Cách sông xa nhìn núi Ngự Bình
Xuân theo dòng sông đi về đâu?
Người nương chân trời lụn trệ vì một chúc quan
Đêm nghe tiếng mưa ồn ào đầy đất
Trên một giường, nỗi buồn cô đơn chống với khí lạnh của xuân
Hoa đào chớ cậy được Chúa Xuân yêu
Bên cạnh có Dì Gió tánh rất chua chua ngoa

II[sửa]

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

東望江頭望故交
浮雲無定水滔滔
風吹古塚浮榮盡
日落平沙戰骨高
山月江風如有得
岩棲谷飲不辭勞
平生已絕雲霄夢
怕見傍人問羽毛

Đông vọng giang đầu vọng cố giao
Phù vân vô định thủy thao thao
Phong xuy cổ trủng phù vinh[3] tận
Nhật lạc bình sa chiến cốt[4] cao
Sơn nguyệt giang phong như hữu đãi
Nham thê cốc ẩm bất từ lao
Bình sanh dĩ tuyệt vân tiêu mộng[5]
Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao

Đầu sông trông xuống đông là đất cũ
Đám mây lang thang, nước cuồn cuộn
Gió thổi nơi mồ xưa, bao nhiêu vinh hoa hư ảo tan hết
Bóng chiều trên bãi cát, xương chiến sĩ vun cao
Trăng núi gió sông như có lòng chờ đợi
Ở hang uống hố cũng không nề gian lao
Bình sinh đã dứt hẳn mộng lên mây xanh
Sợ thấy có người ở bên hỏi đến lông cánh

   




Chú thích

  1. Cửa Vua
  2. Ngự Bình: Một danh sơn ở Huế, đứng làm tiền án cho thành vua. Thành vua ở phía Bắc ngạn sông Hương, Ngự Bình ở Nam ngạn
  3. Vinh hoa phù phiếm. Tức là công danh phú quý trên đời như áng mây bay
  4. Tàn tích của chiến tranh vẫn chưa lấp hết
  5. Mộng làm quan lớn