Quá hải

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

撥盡閑愁獨倚蓬
水光渺渺思何窮
松林地斥疆南北
龍尾山橫限要衝
義氣掃空千障客
壯懷呼起半帆風
扁舟羨我朝天客
直駕鯨鯢跨海東

Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng ;
Thủy quang diểu diểu tứ hà cùng !
Tùng lâm[1] địa xích cương nam bắc,
Long vĩ[2] sơn hoành hạn yếu xung.
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ ;
Tráng hoài hô khỉ bán phàm phong.
Biển châu tiển ngã triều thiên khách[3],
Trực giá kình nghê khóa hải Đông.

Gạt hết âu sầu, một mình tựa mui thuyền ;
Sắc nước mênh mông tứ nói sao hết được.
Rừng tùng ngăn đất làm giới hạn cho Bắc Nam ;
Núi Long-vĩ nằm ngang làm chỗ ngăn trở hiểm yếu.
Nghĩa khí quét phăng nghìn lớp mây mù ;
Tráng hoài gọi gió nổi, buồm căng nửa cánh.
Chiếc thuyền nhỏ, mừng ta là khách đi chầu trời,
Cỡi kình nghê mà vượt thẳng biển Đông.

   




Chú thích

  1. Tùng lâm: Đại Nam nhất thống chí chép châu Vĩnh Yên có trang Tùng Kính, trước thuộc nước ta, sau nhà Mạc hiến cho Trung Quốc, phải chăng Tùng lâm là đó?
  2. Long vĩ: tức là đảo Bạch Long Vĩ. Đại Nam nhất thống chí chép đảo ở phía đông châu Tiên Yên, là xã Yên Lãng, phía bắc tiếp Khâm Châu tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc. Đảo nằm ở khoảng giữa tỉnh Hải Ninh của nước ta và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Ngày xưa thuyền nước ta sang Khâm Châu thường đi qua đó
  3. Triều thiên khách: tức là khách đi chầu trời. Câu này chứng tỏ rằng bấy giờ Nguyễn Trãi sang Trung Quốc, nên nói đi chầu trời, tức sang thiên triều. Có thể là có ý mỉa mai